- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Th - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 221/2023/HS-ST Ngày: 14/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Việt Anh
Bà Lương Mai Ngân
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại các điểm cầu: Trụ sở Tòa án nhân dân dân Thành phố Hà Nội (Điểm cầu trung tâm) và Trại Tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội (Điểm cầu thành phần) mở phiên tòa công khai xét xử trực T sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 220/2023/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Thanh Th, sinh năm 1974; nơi đăng ký thường trú: Chương Dương, Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thanh Ngh và bà Nguyễn Thị S; có chồng: Trần Hữu Ph và có 02 con, lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: 02 tiền án:
- Ngày 26/02/2008, Toà án nhân dân quận tỉnh Hà Tây xử 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy thời hạn tù tính từ ngày 08/06/2007 (án số 14). Ra trại ngày 17/01/2009.
- Ngày 27/11/2012, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy thời hạn tù tính từ ngày 07/07/2012. Ra trại ngày 07/05/2019 (án số 598).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/05/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 04/5/2023, tại khu vực ngõ 70 phố Mai Động, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, tổ công tác đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Hoàng Mai đang làm nhiệm vụ phát hiện (sinh năm 1969; HKTT: số 436 Bạch Đằng, Chương Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội) và Lê Thanh Th (sinh năm 1974; HKTT: Bạch Đằng, phường Chương Dương, Hoàn Kiếm, Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Thtự giao nộp bên trong lòng bàn tay phải có 01 túi nilon (kích thước 2x3 cm) bên trong chứa 05 viên nén màu vàng và 01 túi nilon (kích thước 2x2cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng. Lê Thanh Th khai nhận 05 viên nén màu vàng và tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon trên là ma túy, Thđang trên đường đem đi bán cho khách nhưng chưa bán được thì bị phát hiện bắt giữ, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, tổ công tác thu giữ của Thủy: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu trắng; thu giữ của Trần Quang T01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS 29M1-886.22. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, đưa các đối tượng và vật chứng về trụ sở công an quận Hoàng Mai để điều tra, làm rõ.
Tại cơ quan công an Lê Thanh Th khai nhận: khoảng 20 giờ 50 phút ngày 04/5/2023, Thđang ở nhà cùng với bạn trai là Trần Quang T thì có tài khoản “em Thái Còi” gửi lời mời kết bạn nói chuyện và gọi điện qua zalo hỏi mua 05 viên ma túy “kẹo” và 01 chỉ ma túy “ke” Thđồng ý và báo giá 2.000.000 đồng, hẹn gặp giao dịch tại ngõ 70 phố Mai Động, phường Mai Động, Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Sau đó, Thlấy ma túy trong phòng ngủ và nhờ T chở đi, khi đến khu vực ngõ 70, phố Mai Động thì thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang thu giữ vật chứng như nội dung trên. Th khai việc trao đổi bán ma túy với đối tượng sử dụng tài khoản zalo “Thái còi”, hẹn gặp giao ma túy cho Thái, Th không bàn bạc và nói cho T biết, Th nhờ T chở đi ra ngõ 70, phố Mai Động. Nguồn gốc số ma túy, Thcó sẵn ở nhà, do Thmua trước đó của một người đàn ông tên Đức ở khu vực đầu ngõ 649 Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội với giá 1.500.000 đồng. Thkhai không nói cho T biết chỗ cất giấu số ma túy trên.
Tại cơ quan điều tra, Trần Quang T khai: T và Thcó mối quan hệ sống chung như vợ chồng. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 04/5/2023 khi đang ở nhà cùng Thtại số 7 ngõ 649/77/43 phố Nam Dư, phường Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, Thnhờ chở đến khu vực ngõ 70, phố Mai Động có việc, không nói nội dung để làm gì. Sau đó, T điều khiển xe máy chở Th ngồi sau, khi đến khu vực ngõ ngõ 70, phố Mai Động thì lực lượng công an phát hiện, kiểm tra bắt giữ, Th đã tự giao nộp số vật chứng và khai là ma túy mục đích mang đi bán cho khách. T khai không biết nguồn gốc số ma túy, Th không nói và bàn bạc với T việc mang ma túy để bán cho con nghiện. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Kết luận giám định số 2853ª/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội, kết luận:
- Tinh thể trắng bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 1.784 gam.
- 05 viên nén màu vàng bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 2.461 gam.
Đối với đối tượng nam giới tên Đức (theo lời khai của Thủy) là người đã bán ma túy cho Thvà đối tượng sử dụng tài khoản Zalo “em Thái Còi” là người hỏi mua ma túy của Thủy, ngoài lời khai của Thhiện không có tài liệu nào khác để xác định đối tượng Đức và Thái còi. Do đó, hiện không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng thu giữ của Lê Thanh Th, Th khai là tài sản cá nhân, mục đích mua để liên lạc nhưng do mới mua nên chưa lắp sim điện thoại. Kết quả kiểm tra điện thoại phát hiện trong phần cuộc gọi đến có tài khoản Zalo “Em Thái Còi” liên hệ phù hợp với về thời gian lời khai của Th là đối tượng liên hệ để mua ma túy.
Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS 29M1-886.22 SK:RLHJK0318MX075288; SM:JK03E-5281522 thu giữ của Trần Quang T, T khai: mượn xe của chị Dương Thị Thúy A (thông gia của Th). Cơ quan điều tra tiến hành xác minh xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS 29M1-886.22 là tài sản hợp pháp của chị Dương Thị Thúy A (sinh năm 1974; trú tại: Thôn, xã Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội). Chị Thúy A cho T mượn xe máy để sử dụng, chị Thúy Anh không biết, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Th. Xét không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản số 110 ngày 23/7/2023 trao trả chiếc xe trên cho chị Dương Thị Thúy A. Chị Thúy A đã nhận tài sản và không có đề nghị gì khác.
* Tại bản Cáo trạng số 214/CT-VKS-HM ngày 09 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội đã truy tố: Lê Thanh Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên toà:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội sau khi luận tội, vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt Lê Thanh Th từ 40 đến 46 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng; Về vật chứng, đề nghị: tịch thu tiêu hủy số lượng ma tuý đã thu giữ; tịch thu, sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi quyết định tố tụng: Về hành vi quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 04/5/2023, tại khu vực ngõ 70, phố Mai Động, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội, Lê Thanh Th có hành vi tàng trữ ma túy gồm 2.461 gam Methamphetamine và 1.784 gam ma túy loại Ketamine mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán ma túy cho khách thì bị tổ công tác Công an quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Thanh Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù tội cùng loại nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; điều đó thể hiện việc coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xét: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với cộng đồng cũng đủ giáo dục và phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng:
- Đối với số lượng ma túy đã thu giữ sau khi giám định (được niêm phong trong 02 hộp giấy) là chất cấm lưu hành, do đó cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại đã thu giữ của Lê Thanh Th: bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội, điện thoại còn giá trị sử dụng; do đó cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
. Các vấn đề khác:
- Đối với đối tượng nam giới tên Đức (theo lời khai của Th) là người đã bán ma túy cho Th và đối tượng sử dụng tài khoản Zalo “em Thái Còi” là người hỏi mua ma túy của Thủy, ngoài lời khai của Th hiện không có tài liệu nào khác để xác định đối tượng Đức và Thái còi nên Cơ quan Điều tra Công an quận Hoàng Mai không có cơ sở để điều tra làm rõ. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để xét.
- Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS 29M1-886.22 SK:RLHJK0318MX075288; SM:JK03E-5281522 thu giữ của Trần Quang T, T khai: mượn xe của chị Dương Thị Thúy A (thông gia của Th). Cơ quan điều tra tiến hành xác minh xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS 29M1-886.22 là tài sản hợp pháp của chị Dương Thị Thúy A (sinh năm 1974; trú tại: xã Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội). Chị Thúy A cho T mượn xe máy để sử dụng, chị Thúy A không biết, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Th. Xét không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản số 110 ngày 23/ 7/2023 trao trả chiếc xe trên cho chị Dương Thị Thúy A là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: các điều 45, 46, 260, 268, 269, 299, Điều 326 và Điều 327 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
3. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt Lê Thanh Th 40 (Bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2023.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46,47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy số lượng ma túy đã thu giữ sau khi giám định.
- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại đã thu giữ của Lê Thanh Th.
(Các vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326 QH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Thanh Th phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Q.Hoàng Mai, TP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - Cơ quan ĐT CA Q.Hoàng Mai; - Phòng KTNV &THA TATP Hà Nội; - Chi Cục THADS Q.Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Trại Tạm giam số 2; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Trung tâm Lý lịch tư pháp QG – BTP; - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Mạnh Hà |