vanban.org

Bản án 221/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/12/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn Đ

Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Ngọc Anh sinh ngày 02/01/2011 cho chị Trương Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn Đ
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 221/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20/12/2022
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê - Cán bộ hưu.

Bà Lê Thị Minh Khánh - Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 20/12/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 179/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/10/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163 /2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/10/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/11/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm 1991. ( Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Ngọc Sơn, xã Chu Điện, huyện LN, tỉnh BG.

Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng của Tòa án:

Anh Trương Văn T, sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn Sơn Đình 2, xã Thanh Lâm, huyện LN, tỉnh BG

-Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1989. ( Vắng mặt)

Địa chỉ cuối cùng: Thôn Ngọc Sơn, xã Chu Điện,huyện LN, tỉnh BG.

Anh Đ hiện đang lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trương Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 2010 chị và anh Đ có tổ chức kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 08/01/2010 theo quy định của pháp luật tại UBND xã Chu Điện, huyện LN, tỉnh BG. Anh chị trước khi cưới có được tìm hiểu và đi đến hôn nhân và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, sau khi kết hôn ban đầu vợ chồng chị sống hòa thuận hạnh phúc. Nhưng trong cuộc sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn đến năm 2012 anh Đ đi Đài Loan, ban đầu anh chị vẫn liên lạc nhưng sau một thời gian thì không liên lạc nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, do vợ chồng không hiểu nhau và không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Anh chị không liên quan gì đến kinh tế. Khoảng năm 2014 anh chị không còn liên hệ với nhau nên chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh chị không còn quan hệ gì với nhau về tình cảm cũng như tài sản với nhau nữa. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Ngọc A sinh ngày 02/01/2011. Ly hôn chị đề nghị được nuôi con chung. Về cấp dưỡng anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Đ hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Đ đến nay không nhận được thông tin của anh Đ.

Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua bố đẻ của anh Đ là ông Hoàng Văn Lành, sinh năm 1956. Địa chỉ: thôn Ngọc Sơn, xã chu Điện, huyện LN, tỉnh BG, ông có quan điểm trình bày như sau:

Ông là bố đẻ của anh Đ, hiện nay anh Đ đang đi lao động tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Về địa chỉ của anh Đ ở nước ngoài, ông không biết nên không cung cấp cho Tòa án được. Tòa án yêu cầu gia đình ông thông báo để anh Đ gửi qun điểm về thì gia đình ông từ chối thực hiện. Việc chị T xin ly hôn, anh Đ có quan điểm là đồng ý ly hôn với chị T vì không còn tình cảm gì. Anh Đ và chị T có 01 con chung là cháu Anh, cháu đang ở với mẹ. Ly hôn anh Đ đồng ý để chị T nuôi dưỡng con chung không yêu cầu Tòa án giải quyế về cấp dưỡng. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không có.

Tòa án tiến hành làm việc với con chung của anh chị. Cháu Hoàng Ngọc Anh sinh ngày 02/01/2011. Cháu trình bầy cháu có nguyện vọng được ở với mẹ

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T xin vắng mặt, không có quan điểm gì khác về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Anh Đ vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56-Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn Đ. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Ngọc Anh, sinh ngày 02/01/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết. Tài sản chung, công nợ: chị T không đề nghị nên không xem xét giải quyết. Về án phí: căn cứ khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc chị Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị T là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Hoàng Văn Đ. Bị đơn anh Hoàng Văn Đ là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại thôn Ngọc Sơn, xã chu Điện , huyện LN, tỉnh BG nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 21766/QLXNC-P5 ngày 20/10/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì anh Đ đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 18/6/2012, chưa thấy thông tin nhập cảnh về Việt Nam; không có thông tin địa chỉ nước đến, địa chỉ ở nước ngoài của anh Đ. Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh Đ theo quy định tại khoản 5, Điều 177; Điều 179 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T, anh Đ.

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Trương Thị T và anh Hoàng Văn Đ có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Chu Điện, huyện LN, tỉnh BG. Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Đ là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Hiện chị T và anh Đ mỗi người sống một nơi, xa cách về địa lý và không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống nữa. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng chị T và anh Đ đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.Chị T xin ly hôn anh Đ đồng ý. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn Đ.

. Về con chung:

Chị Trương Thị T và anh Đ có 01 con chung là cháu Hoàng Ngọc Anh sinh ngày 02/01/2011. Sau khi ly hôn chị T đề nghị được nuôi con chung. HĐXX thấy: Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án anh Đ không có mặt ở tại địa phương nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình, không có địa chỉ cụ thể. Cháu Anh đang ở ổn định với chị T. Cháu Anh cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Hoàng Ngọc Anh sinh ngày 02/01/2011.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị T trình bày không có, không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, điểm a, khoản 6, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn Đ

2. Về con chung:

- Giao con chung là cháu Hoàng Ngọc Anh sinh ngày 02/01/2011 cho chị Trương Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000623 ngày 07/10/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

4. Về quyền kháng cáo:

- Anh Hoàng Văn Đ hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

- Chị Trương Thị T cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2-Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9- Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ