vanban.org

Bản án 221/2021/HC-PT — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/03/2021 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Hồng N-Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B"
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Luật tố tụng hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Bản án số: 221/2021/HC-PT
Ngày: 11-3-2021
V/v khiếu kiện hành vi hành chính

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Hoàng Hữu Thanh

Các"Thẩm"phán:"1. Bà Lê Thị Thương Huyền"

"

2. Ông Uông Hoài Nam"

"

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Nam – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 tháng 02 và ngày 11 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa

án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành

chính thụ lý số 38/2020/TLPT-HC ngày 10 tháng 11 năm 2020 về “Khiếu kiện

hành vi hành chính”

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2020/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm

2020 của Tòa án nhân dân Quận 8 bị kháng cáo,

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2021/QĐ-PT ngày 29 tháng

01 năm 2021, giữa các đương sự:

1."Người"khởi"kiện: Ông Trần Hồng N, sinh năm 1956

Địa chỉ: Phường H, Quận M, Thành phố H.

2."Người"bị"kiện:"Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T

Địa chỉ: 93 Đào Cam Mộc, Phường B, Quận T, Thành phố H.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Căn"cứ"đơn"khởi"kiện"cùng"các"tài"liệu,"chứng"cứ"trong"hồ"sơ"vụ"án"người"

khởi"kiện"ông"Trần"Hồng"N"trình"bày:

Ông xác nhận trong đơn khởi kiện ông yêu cầu khởi kiện về hành vi của

Chủ tịch Ủy ban nhân Phường B, Quận T về việc:

1/ Đối với đơn xin ngăn chặn ngày 20/8/2016. Đơn này ông nộp tại Ủy

ban nhân dân Phường B Quận T vào ngày 25/8/2016 có cán bộ tư pháp làm phiếu nhận hồ sơ nhưng cho đến nay Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T không xem xét, giải quyết, vẫn chưa có văn bản trả lời đơn cũng như làm việc giải quyết đơn cho ông. Ông có gởi đơn xin ngăn chặn này đến Công an Phường B, Quận T và Tòa án nhân dân Quận 8 thì được trả lời đây là việc của Ủy ban nhân dân Phường B Quận T. Hành vi này của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T vi phạm hành chính theo luật hành chính còn Điều mấy khoản mấy thì ông chưa rõ.

2/ Đối với Phiếu chuyển ngày 06/02/2018 về việc Ban tiếp công dân của

Ủy ban nhân dân Quận 8 chuyển Chủ tịch Ủy ban nhân Phường B, Quận T giải quyết đơn khiếu nại ngày 02/01/2018 của ông. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T không chịu gặp ông để nghe ông trình bày, không ra Quyết định giải quyết khiếu nại, có làm việc với ông về đơn khiếu nại này nhưng giải quyết không cụ thể và làm việc bao nhiêu lần thì ông không nhớ. Hành vi này của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T vi phạm hành chính theo luật hành chính còn Điều mấy khoản mấy thì ông chưa rõ.

Đối với đơn bổ sung đơn khởi kiện ông nộp ngày 28/5/2020, ông xác

nhận yêu cầu bổ sung khởi kiện về hành vi của Chủ tịch Ủy ban nhân Phường B, Quận T về việc:

1/ Đối với đơn “Yêu cầu can thiệp khẩn cấp, ghi nhận lại sự việc để có cơ

sở pháp lý hành vi đuổi người ra khỏi nơi cư trú trái pháp luật” ngày 14/11/2017. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T không giải quyết cụ thể; phân biệt đối xử; không hỗ trợ can thiệp kịp thời; thiếu trách nhiệm; thiếu minh bạch, khách quan; dung túng bao che cho hành vi trái pháp luật; không ghi nhận lại sự việc. Đơn này ông nộp cho Ủy ban nhân dân Phường B Quận T ngày 14/11/2017, đến ngày 20/11/2017, Ủy ban có giấy mời ông làm việc ngày 27/11/2017 về nội dung liên quan đến hành vi đuổi người ra khỏi nơi cư trú của ông Nguyễn Quang L và bà Nguyễn Thị A nhưng tại biên bản làm việc ngày 27/11/2017 thì không rõ ràng, thiếu trách nhiệm và không giải quyết cụ thể. Sau đó ngày 01/3/2018 ông có yêu cầu bổ sung lời nói của ông Nguyễn Quang L tại phiên làm việc ngày 27/11/2017. Hành vi này của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T vi phạm hành chính theo luật hành chính còn Điều mấy khoản mấy thì ông chưa rõ. Ông xin trình bày thêm do Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T không giải quyết kịp thời, dung túng bao che cho hành vi trái pháp luật nên ông Lộc mới có những hành vi trái pháp luật như trộm cắp bàn thờ gia tiên của ông tại lầu 3 nhà 4A đem ra ngoài đường vào ngày 31/3/2018. Đến nay ông không biết bàn thờ gia tiên của ông, ông Lộc để ở đâu

2/ Đối với thông báo về việc xử lý đơn số 1739 ngày 21/6/2019 của Ủy

ban nhân dân Quận 8 thì Ủy ban nhân dân Phường B Quận T có trách nhiệm xem xét giải quyết đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019 của ông. Ngày 25/6/2019 ông xin được gặp chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T để trình bày nhưng chủ tịch không tiếp ông chỉ có cán bộ tư pháp lập biên bản tiếp

xúc không có ông Phó chủ tịch nhưng vẫn có chữ ký của ông Phó chủ tịch. Sau

đó ông có làm đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp

xúc vào ngày 29/6/2019 và nộp vào ngày 01/7/2019 thì ngày 02/7/2019 cán bộ

tư pháp lập biên bản tiếp xúc nhưng chủ tịch cũng không gặp mặt và không giải

quyết gì cho ông.

- Đến ngày 09/7/2019, Chủ tịch mới làm việc với ông có biên bản làm

việc ngày 09/7/2019. Ngày 11/07/2019, ông có đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn

cấp ngày 11/7/2019 đã được Ủy ban nhân dân Phường B Quận T nhận vào ngày

12/7/2019

Nay ông khởi kiện các hành vi của Chủ tịch Phường B, Quận T:

a/ Hành vi kéo dài thời gian xử lý đề nghị xem xét, áp dụng và bảo vệ

quyền lợi của ông theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm

2007

b/ Hành vi không áp dụng biện pháp cần thiết khẩn cấp theo Điều 18,

Điều 19, Điều 20 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007.

c/ Hành vi dung túng, bao che, nhận định, kết luận thiếu khách quan, thiếu

trung thực, không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin sự việc, phân biệt đối xử,

bôi nhọ danh dự nhân phẩm của ông trong buổi làm việc ngày 09/7/2019.

d/ Hành vi không tiếp xúc với ông mà chỉ có cán bộ tư pháp tiếp xúc là vi

phạm Luật tiếp công dân.

Người"bị"kiện"Chủ"tịch"Ủy"ban"nhân"dân"Phường"B"Quận"T"Thành"phố"

Hồ"Chí"Minh"có"ý"kiến"như"sau:"

Ngày 20 tháng 8 năm 2016, ông Trần Hồng N có đơn xin ngăn chặn gửi

Ban Tư pháp Phường 4 (đơn gửi lần 1), theo nội dung đơn:"“(…)Căn"nhà"4A"là"

nhà"đang"tranh"chấp"giữa"ông"Lộc"và"tôi,"Tòa"án"nhân"dân"Quận"8"đang"thụ"lý"

vụ"án"và"tiến"trình"đi"đến"việc"ông"Lộc"chấp"nhận"bồi"thường"tiền"xây"dựng"nhà"

cho"tôi"("việc"không"cho"vào"nhà"và"cúp"điện"nước"sinh"hoạt""ông"Lộc"đã"vi"phạp"

pháp"luật)."Từ"10"giờ"sáng"ngày"19/8/2016,"tôi"không"thể"vào"nhà"được"để"sinh"

hoạt"cá"nhân"trên"phần"lầu"1"riêng"tư"của"tôi"cho"đến"nay;"Đề"nghị"Ban"Tư"pháp"

Phường"B,"Quận"T"mời"ông"Lộc"lên"làm"việc"về"những"thiệt"hại"xảy"ra"cho"tôi"

như:"Sinh"hoạt"cá"nhân,"thú"nuôi"(gà,"chim,"Công"an"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"

cảnh),"thực"phẩm"để"trong"tủ"lạnh,"cây"kiểng"không"được"chăm"sóc,"việc"làm"

gián"đoạn,"đồ"đạc,"tư"trang,"tiền"bạc,"giấy"tờ"có"thể"mất."Ông"Lộc"phải"làm"rõ"

và"có"trách"nhiệm"bồi"thường"những"thiệt"hại"nói"trên"nếu"có"xảy"ra"cho"tôi”.

Ngày 30 tháng 12 năm 2016, ông Trần Hồng N có đơn đề nghị Ủy ban

nhân dân Phường B Quận T (đơn gửi lần 2), theo nội dung đơn:"“(…)Đề"nghị"

giữ"nguyên"tình"trạng"pháp"lý"không"cấp,"đổi"mới"giấy"chứng"nhận"chủ"quyền"

nhà," không" giao" dịch" dưới" mọi" hình" thức" đối" với" căn" nhà" số" 4A" đường" 16"

Phường"B,"Quận"T."Căn"nhà"4A"là"đối"tượng"đang"tranh"chấp"tại"Tòa"án"Quận"

8"giữa"tôi"và"ông"Nguyễn"Quang"L,"đến"nay"Tòa"án"Quận"8"chưa"ban"hành"phán"

quyết"về"vụ"án"“Tranh"chấp"đòi"nhà”"nào"có"hiệu"lực”."

Ngày 29 tháng 3 năm 2017, ông Trần Hồng N tiếp tục có đơn đề nghị gửi

Ủy ban nhân dân Phường 4 (đơn gửi lần 3), theo nội dung đơn:"“(…)Tiếp"tục"đề" nghị" giữ" nguyên" tình" trạng" pháp" lý" không" cấp," đổi" mới" giấy"chứng" nhận" chủ" quyền"nhà,"không"giao"dịch"dưới"mọi"hình"thức"đối"với"căn"nhà"số"4A"đường"16" Phường"B,"Quận"T."Căn"nhà"4A"là"đối"tượng"đang"tranh"chấp"tại"Tòa"án"Quận" 8"giữa"tôi"và"ông"Nguyễn"Quang"L,"đến"nay"Tòa"án"Quận"8"đang"tiếp"tục"giải" quyết”

Ngày 14 tháng 11 năm 2017, ông Trần Hồng N có đơn yêu cầu can thiệp

khẩn cấp gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T (đơn gửi lần 4), nội dung: “(…)"Đề"nghị"Ủy"ban"nhân"dân"Phường"B"Quận"T"can"thiệp,"ghi"nhận"lại" vụ"việc"để"có"cơ"sở"pháp"lý"giải"quyết"yêu"cầu"của"tôi"theo"đúng"trình"tự"của" pháp"luật:"Mời"ông"Lộc"và"bà"An"đến"Ủy"ban"nhân"dân"Phường"4"để"làm"rõ"sự" việc"về"hành"vi"vi"phạm"pháp"luật"đối"với"tôi;"để"đảm"bảo"quyền"cư"trú"hợp"pháp" của"tôi,"để"tôi"bảo"vệ"tài"sản"hợp"pháp"của"mình,"để"tôi"chăm"sóc"bảo"vệ"vợ"và"2" con"tôi,"phải"mở"lại"điện,"nước"để"tôi"sử"dụng,"bảo"đảm"đời"sống"sinh"hoạt"của" tôi"bình"thường"như"trước"đây”.

Ngày 02 tháng 01 năm 2018, ông Trần Hồng N có đơn khiếu nại gửi Chủ

tịch Ủy ban nhân dân Quận 8 (đơn gửi lần 5), nội dung: “(…)"Phó"Chủ"tịch"Lê" Hồng"Quân"xem"xét,"giải"quyết"trả"lời"đơn"yêu"cầu"can"thiệp""khẩn"cấp"tạm"thời" ngày"14/11/2017"chưa"thỏa"đáng"và"chưa"can"thiệp"đúng"mức"theo"nội"dung"yêu" cầu,"Cán"bộ"Tư"pháp"Nguyễn"Hữu"Việt"đã"không"quan"tâm"đến"quyền"lợi"công" dân"của"tôi,"ghi"chép"biên"bản"ngày"27/11/2017"có"nhiều"thiếu"sót,"làm"mất"dữ" liệu"ghi"âm;"Yêu"cầu"Chủ"tịch"xem"xét,"giải"quyết"chấp"thuận"đơn"yêu"cầu"can" thiệp" khẩn" cấp" của" tôi" ngày" 14/11/2017" và" sửa" Văn" bản" trả" lời" đơn" ngày" 05/12/2017"của"Phó"Chủ"tịch"Lê"Hồng"Quân.” Ngày 06 tháng 02 năm 2018 Ban tiếp công dân Quận 8 có phiếu chuyển số 30/PC-XKT truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8 xem xét, tiếp xúc, giải quyết khiếu nại (cùng nội dung với đơn gửi lần 5) theo quy định (kèm phiếu đăng ký tiếp xúc của ông Trần Hồng N).

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, ông Trần Hồng N tiếp tục có đơn yêu cầu

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B Quận T ra Quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc theo Điều 19 và Điều 20 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007 đối với ông Nguyễn Quang L. Nội dung như sau: “(…)"Kịp"thời"ra"Quyết" định"áp"dụng"biện"pháp"cấm"tiếp"xúc"theo"Điều"19"và"Điều"20"của"Luật"Phòng" chống"bạo"lực"gia"đình"2007"đối"với"ông"Nguyễn"Quang"L;"Sớm"xem"xét"giải" quyết"“theo" Văn" bản" 1739"ngày"21/6/2019" của" Ủy"ban"nhân"dân" Quận"8”" vì" hiện"nay"“tôi"là"người"cao"tuổi”,"bệnh"tật"đang"hoành"hành,"không"còn"tiền"bạc" để"sinh"sống,"không"nơi"nương"tựa"(từ"ngày"25/6/2016"đến"nay);"Sớm"được"gặp" Chủ"tịch"Ủy"ban"nhân"dân"Phường"B"Quận"T"để"trình"bày"(như"tôi"tôi"đã"yêu" cầu"theo"biên"bản"tiếp"xúc"ngày"25/6/2019"tại"Ủy"ban"nhân"dân"Phường"B"Quận" T”"

Từ khi tiếp nhận đơn của ông Trần Hồng N bắt đầu từ ngày 20/8/2016 đến

ngày 25/9/2019 (trong đó có đơn xin ngăn chặn, đơn khiếu nại, Phiếu chuyển từ

Ban Tiếp công dân Quận 8), Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Phường đã xử lý

giải quyết đơn đúng theo trình tự thủ tục quy định. Cụ thể:

+ Tổ chức tiếp xúc đối thoại để giải quyết đơn của ông Trần Hồng N.

+ Tiếp xúc với các thành viên trong gia đình ghi nhận ý kiến và lấy ý kiến

các hộ gia đình lân cận ghi nhận lại sự việc.

+ Phối hợp Ủy ban Mặt trận tổ quốc, ban ngành đoàn thể và các đơn vị

liên quan kiểm tra, xác minh thông tin.

+ Thu thập các tài liệu, chứng cứ tại Tòa án nhân dân các cấp phục vụ cho

việc nghiên cứu và giải quyết đơn của ông Trần Hồng N

+ Có văn bản trả lời đơn khiếu nại của ông N và có giải thích, hướng dẫn

cụ thể. (Hướng dẫn ông N liên hệ Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được giải

quyết theo quy định của pháp luật).

+ Có báo cáo kết quả giải quyết đơn của ông Trần Hồng N cho các cơ

quan ban ngành theo đúng chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Quận 8.

Qua rà soát, nghiên cứu hồ sơ, tài liệu liên quan đến vụ việc của ông Trần

Hồng N lưu trữ tại đơn vị, cho thấy sự việc bị khiếu nại diễn ra trong giai đoạn

từ năm 2016 đến năm 2019 và đến thời điểm hiện nay, nhân sự Ủy ban nhân dân

Phường 4 có nhiều thay đổi, như:

- Người có thẩm quyền tại thời điểm giải quyết vụ việc là ông Cao Văn

Đổi, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường đã nhận nhiệm vụ tại Đội Quản lý Trật

tự Đô thị Quận 8 từ ngày 30/10/2019; ông Lê Hồng Quân, Phó Chủ tịch Ủy ban

nhân dân phường nhận nhiệm vụ tại Ủy ban nhân dân Phường 1 Quận 8 từ ngày

25/7/2019.

- Ông Đỗ Lê Minh Quyền tiếp nhận nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban nhân

Phường 4 kể từ ngày 04/11/2019.

- Ông Nguyễn Xuân Dinh tiếp nhận nhiệm vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân

Phường 4 kể từ ngày 01/10/2019.

- Công chức phụ trách lĩnh vực Tư pháp tại thời điểm giải quyết vụ việc là

ông Nguyễn Hữu Việt, đã nhận nhiệm vụ tại Sở Giao thông Vận tải từ ngày

02/01/2020. Bà Nguyễn Thị Hằng Nga, Công chức Tư pháp hộ tịch được phân

công phụ trách lĩnh vực Tư pháp từ ngày 02/01/2020.

Đề nghị:

Từ các cơ sở trên, trong quá trình tố tụng, nếu có vấn đề cần làm rõ kiến

nghị Tòa án nhân dân Quận 8 triệu tập người có quyền và nghĩa vụ liên quan

đến vụ kiện.

Trường hợp qua thẩm tra, xét xử nếu có thiếu sót, sai phạm cần xác định

trách nhiệm thì ghi rõ thời điểm cụ thể và cá nhân có liên quan.

Trên đây là báo cáo về việc cung cấp bản ghi ý kiến của Ủy ban nhân dân

phường và cung cấp tài liệu, chứng cứ phục vụ “Khiếu kiện hành vi hành chính” tại Tòa án của Ủy ban nhân dân Phường 4.

"Tại"Bản"án"hành"chính"sơ"thẩm"số"02/2020/HC-ST"ngày"23"tháng"9"năm"

2020,"Tòa"án"nhân"dân"Quận"8"đã"quyết"định"như"sau:"

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi hành

chính của Chủ tịch Ủy ban Phường B, Quận T đối với đơn xin ngăn chặn ngày 20/8/2016, đơn khiếu nại ngày 02/01/2018 theo phiếu chuyển ngày 06/02/2018 và đơn “Yêu cầu can thiệp khẩn cấp, ghi nhận lại sự việc để có cơ sở pháp lý hành vi đuổi người ra khỏi nơi cư trú trái pháp luật” ngày 14/11/2017 vì các hành vi này đã hết thời hiệu khởi kiện.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi của Chủ

tịch Ủy ban Phường B, Quận T như ông N trình bày là hành vi không áp dụng biện pháp cần thiết khẩn cấp theo Điều 18, Điều 19, Điều 20 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi dung túng, bao che, nhận định, kết luận thiếu khách quan, thiếu trung thực, không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin sự việc, phân biệt đối xử, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của ông N trong buổi làm việc ngày 09/7/2019 đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 vì các hành vi này không phải là hành vi hành chính theo khoản 3 Điều 3 của Luật tố tụng Hành chính nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

3. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi của Chủ tịch

Ủy ban Phường B, Quận T như ông N trình bày là hành vi kéo dài thời gian xử lý đề nghị xem xét, áp dụng và bảo vệ quyền lợi của ông theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi không tiếp xúc với ông mà chỉ có cán bộ tư pháp tiếp xúc là vi phạm Luật tiếp công dân đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 do các yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật .

3. Về án phí:

Ông N phải chịu án phí hành chính sơ thẩm do yêu cầu của ông không

được Tòa án chấp nhận tuy nhiên ông N là người cao tuổi (trên 60 tuổi) có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên ông N được miễn nộp tiền án phí.

Ngày 01 tháng 10 năm 2020, người khởi kiện là ông Trần Hồng N kháng

cáo bản án sơ thẩm (được Tòa án nhân dân Quận 8 nhận đơn ngày 05/10/2020) đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

Tại"phiên"tòa"phúc"thẩm,""

- Người khởi kiện là ông Trần Hồng N có trình bày như trong đơn khởi

kiện và ý kiến như đơn bổ sung đề ngày 01/10/2020, đồng thời đề nghị Tòa

án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại.

- Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T có đơn

xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý

kiến tại phiên tòa phúc thẩm như sau:

+ Về việc chấp hành pháp luật tố tụng trong giai đoạn phúc thẩm: Từ khi

thụ lý cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện

đúng trình tự thủ tục, thụ lý, thẩm quyền, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng theo

quy định của Luật Tố tụng hành chính. Các đương sự trong vụ án cũng đã chấp

hành đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

+ Về kháng cáo của ông Trần Hồng N: Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định

bác yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc

thẩm bác kháng cáo của ông Trần Hồng N và giữ nguyên quyết định của bản án

sơ thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận

định:

[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm,

người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T vắng mặt,

nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Khoản 4

Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến

hành phiên tòa xét xử vắng mặt Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh.

[2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Trần Hồng N khởi kiện về các hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy

ban Phường B, Quận T đối với hành vi kéo dài thời gian xử lý đề nghị xem xét,

áp dụng và bảo vệ quyền lợi của ông theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo

lực gia đình năm 2007 và hành vi không tiếp xúc với ông mà chỉ có cán bộ tư

pháp tiếp xúc là vi phạm Luật tiếp công dân đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp

ngày 06/6/2019, đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp

xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019;

hành vi không xem xét, giải quyết đối với đơn xin ngăn chặn ngày 20/8/2016,

đơn khiếu nại ngày 02/01/2018 theo phiếu chuyển ngày 06/02/2018 và đơn “Yêu

cầu can thiệp khẩn cấp, ghi nhận lại sự việc để có cơ sở pháp lý hành vi đuổi

người ra khỏi nơi cư trú trái pháp luật” ngày 14/11/2017; hành vi không áp dụng

biện pháp cần thiết khẩn cấp theo Điều 18, Điều 19, Điều 20 Luật Phòng chống

bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi dung túng, bao che, nhận định, kết luận

thiếu khách quan, thiếu trung thực, không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin sự

việc, phân biệt đối xử, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của ông N trong buổi làm

việc ngày 09/7/2019 đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu

cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019. Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý và giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[3] Về yêu cầu kháng cáo của ông Trần Hồng N, Hội đồng xét xử phúc

thẩm nhận thấy:

[4] Đối với yêu cầu tuyên bố hành vi không xem xét, giải quyết đối với

đơn xin ngăn chặn ngày 20/8/2016, đơn khiếu nại ngày 02/01/2018 theo phiếu chuyển ngày 06/02/2018 và đơn “Yêu cầu can thiệp khẩn cấp, ghi nhận lại sự việc để có cơ sở pháp lý hành vi đuổi người ra khỏi nơi cư trú trái pháp luật” ngày 14/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T là trái pháp luật. Xét thấy, ngày 20/3/2020 và ngày 28/5/2020 ông N mới nộp đơn khởi kiện là đã hết thời hiệu khởi kiện 01 năm kể từ ngày biết được hành vi hành chính theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính để đình chỉ đối với yêu cầu này của ông N là đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của ông N về phần này là không có cơ sở để chấp nhận.

[5] Đối với yêu cầu tuyên bố hành vi không áp dụng biện pháp cần thiết

khẩn cấp theo Điều 18, Điều 19, Điều 20 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi dung túng, bao che, nhận định, kết luận thiếu khách quan, thiếu trung thực, không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin sự việc, phân biệt đối xử, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của ông N trong buổi làm việc ngày 09/7/2019 đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T là trái pháp luật. Xét thấy, các hành vi nêu trên của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường B, Quận T không phải là hành vì hành chính bị kiện được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3 Luật tố tụng hành chính nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 123 và điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính để đình chỉ đối với yêu cầu này của ông N là đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của ông N về phần này là không có cơ sở để chấp nhận.

[6] Đối với yêu cầu tuyên bố hành vi kéo dài thời gian xử lý đề nghị xem

xét, áp dụng và bảo vệ quyền lợi của ông N theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007

Căn cứ theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007

không quy định về thời gian giải quyết đơn nên việc ông N cho rằng Chủ tịch Ủy ban Phường B, Quận T kéo dài thời gian xử lý đề nghị là không có cơ sở. Kháng cáo của ông N về phần này là không có cơ sở để chấp nhận.

[7] Đối với yêu cầu tuyên bố hành vi không tiếp xúc với ông Trần Hồng

N mà chỉ có cán bộ tư pháp tiếp xúc là trái pháp luật

Căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 15 Luật tiếp công dân năm 2013 quy

định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp phụ trách công tác tiếp công dân ở cấp xã và phân công người tiếp công dân nên việc Chủ tịch Ủy ban Phường 4 phân công cán bộ tư pháp tiếp ông N là đúng theo quy định pháp luật. Kháng cáo của ông N về phần này là không có cơ sở để chấp nhận.

[8] Như vậy, qua xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ đã được xem

xét tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, không có cơ sở để hủy bản án sơ

thẩm như yêu cầu của người kháng cáo.

[9] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh cũng đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông

N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[10] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ

nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là ông Trần Hồng N phải chịu án

phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 48

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án và Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 thì ông N thuộc trường

hợp người cao tuổi nên được miễn nộp án phí hành hành chính phúc thẩm.

Vì"các"lẽ"trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 3, Điều 30, Điều 225, khoản 1 Điều 241, Điều

242 của Luật Tố tụng hành chính;

Căn cứ Điều 15 Luật tiếp công dân năm 2013;

Căn cứ Điều 3, Điều 5, Điều 18, Điều 19 và Điều 20 Luật Phòng chống

bạo lực gia đình năm 2007;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án.

I. Bác kháng cáo của ông Trần Hồng N giữ nguyên quyết định của bản án

sơ thẩm, như sau:

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi hành

chính của Chủ tịch Ủy ban Phường B, Quận T đối với đơn xin ngăn chặn ngày

20/8/2016, đơn khiếu nại ngày 02/01/2018 theo phiếu chuyển ngày 06/02/2018

và đơn “Yêu cầu can thiệp khẩn cấp, ghi nhận lại sự việc để có cơ sở pháp lý

hành vi đuổi người ra khỏi nơi cư trú trái pháp luật” ngày 14/11/2017 vì các

hành vi này đã hết thời hiệu khởi kiện.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi của Chủ

tịch Ủy ban Phường B, Quận T như ông N trình bày là hành vi không áp dụng

biện pháp cần thiết khẩn cấp theo Điều 18, Điều 19, Điều 20 Luật Phòng chống

bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi dung túng, bao che, nhận định, kết luận

thiếu khách quan, thiếu trung thực, không đúng sự thật, làm sai lệch thông tin sự

việc, phân biệt đối xử, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của ông N trong buổi làm

việc ngày 09/7/2019 đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu

cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019

và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 vì các hành vi này không

phải là hành vi hành chính theo khoản 3 Điều 3 của Luật tố tụng Hành chính nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

3. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hồng N về hành vi của Chủ tịch

Ủy ban Phường B, Quận T như ông N trình bày là hành vi kéo dài thời gian xử lý đề nghị xem xét, áp dụng và bảo vệ quyền lợi của ông theo Điều 3, Điều 5 Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 và hành vi không tiếp xúc với ông mà chỉ có cán bộ tư pháp tiếp xúc là vi phạm Luật tiếp công dân đối với đơn xin cứu xét khẩn cấp ngày 06/6/2019, đơn yêu cầu Chủ tịch ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc vào ngày 29/6/2019 và đơn xin cứu xét và hỗ trợ khẩn cấp ngày 11/7/2019 do các yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật.

3. Ông N phải chịu án phí hành chính sơ thẩm do yêu cầu của ông không

được Tòa án chấp nhận tuy nhiên ông N là người cao tuổi (trên 60 tuổi) có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên ông N được miễn nộp tiền án phí.

II. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông N thuộc trường hợp người cao

tuổi nên được miễn nộp án phí hành hành chính phúc thẩm.

III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ