- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 221/2020/HSST Ngày: 14/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Tường Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Đức Minh, bà Trần Thị Lân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Long Biên
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh H - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 210/2020/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN D, sinh năm 2000; HKTT: Xóm M, xã K, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông: Nguyễn Văn V; con bà: Nguyễn Thị H. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 284 ngày 06/4/2020 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/3/2020 tại Trại giam số 02 – Công an thành phố Hà Nội (Có mặt).
- Bị hại: Ông Đào Văn M, sinh năm 1965; HKTT: Tổ 2 phường B, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Bà Kiều Thị Q, sinh năm 1959 (vợ bị hại); HKTT: Tổ 2 phường B, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
+ Anh Đào Duy T, sinh năm 1991 (con trai bị hại); HKTT: Tổ 2 phường B, quận Long Biên, thành phố Hà Nộ
+ Chị Đào Thị L, sinh năm 1993 (con gái bị hại); HKTT: Tổ 2 phường B, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Bà Q, anh T, chị L ủy quyền cho: ông Đào Văn H, sinh năm 1962; HKTT: Tổ 2 phường B, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. (Ông H có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1962;
HKTT: Thôn X, Chính Lý, Lý Nhân, Hà Nam
Trú tại: Số 4x xã Đ, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. ( Có mặt)
Chị Vương Thị H, sinh năm 1989; HKTT: Số 7x tổ y phường T, TP. Điện Biên (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 4 giờ 20 phút ngày 23/8/2019, tại đường Đê Vàng thuộc phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô BKS: 27B1 – 124.20 do Nguyễn Văn D điều khiển với xe đạp do ông Đào Văn M điều khiển. Hậu quả: ông Đào Văn M bị thương tích đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức đến 17 giờ 30 phút ngày 27/8/2019 thì tử vong, Nguyễn Văn D bị thương tích nhẹ. Xe mô tô BKS: 27B1 – 124.20 và xe đạp bị hư hỏng.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ các phương tiện cùng giấy tờ liên quan và triệu tập những người có liên quan đến trụ sở để làm rõ.
Quá trình điều tra xác định:
Nguyễn Văn D là công nhân (không có hợp đồng lao động) tại xưởng bánh mì số 4x xã Đ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, chủ xưởng là ông Đỗ Văn Q (SN: 1962, HKTT: thôn x, Chính Lý, Lý Nhân, Hà Nam). D không có giấy phép lái xe mô tô. Hằng ngày, ông Q giao việc cho D làm bánh mì tại xưởng và đi giao bánh mì cho khách.
Khoảng 4h20 ngày 23/8/2019, D điều khiển xe mô tô BKS: 27B1-124.20 chở thùng bánh mì phía sau đi từ Đình Xuyên, Gia Lâm, Hà Nội đến Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội để giao bánh mì cho khách. D đi trên đường đê Vàng thuộc phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội theo hướng từ cầu Đuống về câu Phù Đổng. Khi D điều khiển xe mô tô di với vân tốc 60km/h đến gần cửa khẩu đê Vàng giao với đường Giang Biên, D đi bên phải đường và bấm còi cảnh báo cho người đi bên trong cửa khẩu biết nhưng không giảm vận tốc xe. Lúc này, ông Đào Văn M điều khiển xe đạp đi từ trong cửa khẩu ra rẽ trái vào đường đê Vàng theo hướng cầu Phù Đổng cùng chiều với xe của Nguyễn Văn D. Do D quay mặt sang bên phải đường nhìn bụi cây, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ xe nên khi quay mặt lại nhìn đường thì thấy xe đạp của ông M đã đi gần ngay phía trước xe mô tô của D. D đánh lái sang trái để tránh xe ông M nhưng không kịp nên mặt trước cánh yếm bên phải xe mô tô của D đã va vào mặt ngoài bên trái gióng trên khung xe đạp của ông M làm cả 2 xe đổ xuống kéo rê trên mặt đường, D và ông M ngã xuống đường. D bị thương nằm ở vệ đường môt lúc rồi đứng dậy đi ra chỗ ông M nằm và gọi người đến đưa ông M đi cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức. Đến 17h30’ ngày 27/8/2019, ông M tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:
- Đường đê Vàng đường hai chiều, ở giữa có vạch sơn đứt nét màu trắng chia làm hai chiều xe chạy riêng biệt, một chiều hướng cầu Đuống, chiều còn lại hướng Gia Lâm, mặt đường được trải bê tông nhựa thẳng phẳng, rộng 5,5m.
- Điểm mốc làm chuẩn: cột đèn 319/6
- Mép đường làm chuẩn: mép đường bên phải đường đê Vàng theo chiều cầu Đuống hướng cầu Phù Đổng.
Xe đạp đổ nghiêng trái trên đường đê Vàng, đầu xe hướng cầu Phù Đổng, đuôi xe hướng cầu Đuống. Đo từ trục bánh trước, sau xe đạp vào mép đường làm chuẩn lần lượt được 0,40m và 0,40m.
Đo từ vị trí trục bánh trước xe đạp 13,8m hướng cầu Phù Đổng là vị trí xe mô tô biển số 27B1-124.20 nằm đổ nghiêng trên đường đê Vàng, đầu xe hướng ra giữa đường, đuôi xe hướng sườn để Vàng. Đo từ trục bánh trước, sau xe mô tô biển số 27B1-124.20 vào mép đường làm chuẩn lần lượt được 0,20m và 1,2m.
Đo từ vị trí trục bánh sau xe đạp 2,7m hướng cầu Đuống là vị trí vết cày đất quãng, đo vào mép đường làm chuẩn lần lượt được 0,20m và 1,2m.
Đo từ vị trí trục bánh trước xe đạp 2,4m hướng cầu Phù Đổng là vị trí nạn nhân nằm nghiêng phải trên đường để Vàng, đầu nạn nhân hướng cầu Phù Đổng, chân nạn nhân hướng cầu Đuống. Đo từ vị trí đầu chân nạn nhân vào mép đường làm chuẩn lần lượt được 1,00m và 1,20m.
Ngay sát đầu nạn nhân là vị trí vùng máu, đo vào mép đường làm chuẩn được 1,20m.
Đo từ vị trí trục bánh sau xe đạp 1,60m hướng cầu Đuống là vị trí ngang điểm mốc.
Đo từ mép ngã ba đường Giang Biên giao cắt để Vàng 7,60m hướng cầu Phù Đổng là vị trí bị can chỉ là điểm chạm ban đầu. Đo vào mép đường làm chuẩn được 2,75m.
Về dấu vết va chạm:
Tại bản kết luận giám định số 6174/C09(P3) của Viện khoa học kỹ thuật hình sự - Bộ Công an ngày 31/10/2019 kết luận:
Dấu vết trượt xước dính chất màu xanh (dạng sơn) ở mặt trước cánh yếm bên phải xe mô tô biển số 27B1-124.20 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt mất sơn màu xanh ở mặt ngoài bên trái gióng trên của khung xe đạp nữ màu xanh. Dấu vết va chạm ở xe đạp nữ màu xanh tại vị trí này có chiều từ sau về trước.
Tại công văn số 6923/TCĐBVN-QLPT&NL của Tổng Cục đường bộ Việt Nam – Bộ Giao thông vận tải ngày 18/10/2019 trả lời Nguyễn Văn D , sinh năm 2000, cư trú tại xã K- huyện Nghĩa Đàn-tỉnh Nghệ An, không có thông tin về giấy phép lái xe mô tô trên cơ sở dữ liệu giấy phép lái xe toàn quốc.
Kết quả giám định pháp y: Nguyên nhân chết do gia đình nạn nhân Đào Văn M từ chối pháp y tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận như nội dung trên phù hợp với lời khai nhân chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong vụ án.
Về dân sự: Nguyễn Văn D đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Đào Văn M (do ông Đào Văn H làm đại diện hợp pháp) số tiền 80.000.000 đồng. Ông H đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Văn D.
-Đối với 01 xe đạp nữ màu xanh, quá trình điều tra xác định chiếc xe đạp này là của nạn nhân Đào Văn M. Cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả 01 xe đạp nữ màu xanh cho ông Đào Văn H (SN:1962, HKTT: tổ 2, phường B, Long Biên, Hà Nội là đại diện hợp pháp của nạn nhân M). Ông H đã nhận lại xe, do xe hư hỏng nhẹ nên ông H không yêu cầu gì về bồi thường dân sự,
-Đối với 01 xe máy, BKS: 27B1-124.20, quá trình điều tra xác định chiếc xe máy này có đăng ký tên Vương Thị H (SN: 1989, HKTT: tổ dân phố 3, phường T, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên). Năm 2012, chị H mua và đăng ký chính chủ chiếc xe trên. Năm 2018, chị H cho ông Đỗ Văn Q (là bố chồng của chị Hòa) chiếc xe trên, khi cho không làm giấy tờ. Kết quả tra cứu xe máy BKS: 27B1-124.20 không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Đối với 01 thùng nhựa màu xanh hình chữ nhật là tài sản của ông Q, cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả xe máy BKS: 27B1-124.20 và 01 thùng nhựa hình chữ nhật màu xanh cho ông Đỗ Văn Q là chủ sở hữu hợp pháp. Ông Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
-Đối với hành vi của ông Đỗ Văn Q giao xe mô tô cho D, kết quả điều tra xác định: quá trình làm việc tại xưởng bánh mì, ông Q hỏi D có bằng lái xe mô tô không thì D nói đã có bằng lái xe mô tô nên ông Q giao chiếc xe máy trên cho D sử dụng. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên không đặt vấn đề xử lý đối với ông Q.
Tại Bản cáo trạng số 213/CT-VKS-LB ngày 24/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận:
Khoảng 4h20 ngày 23/8/2019, bị cáo (không có giấy phép lái xe mô tô) điều khiển xe máy BKS: 27B1-124.20 tham gia giao thông tại đường để Vàng thuộc phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội. Do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đi đến cửa khẩu đường Giang Biên giao với đê Vàng nên D đã để mặt trước cánh yếm bên phải xe máy của bị cáo điều khiển va vào mặt ngoài bên trái gióng trên khung xe đạp của ông Đào Văn M điều khiển gây tai nạn giao thông làm ông M bị thương sau đó bị tử vong vào hồi 17h30 ngày 27/8/2019.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào kết quả thẩm tra toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định dấu vết va chạm, lời khai của bị can, lời khai nhân chứng, người liên quan thấy: Vụ tai nạn giao thông trên nguyên nhân chính là do Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô (không có giấy phép lái xe mô tô) đi thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Nạn nhân Đào Văn M đi đúng phần đường nên không có lỗi. Hành vi tham gia giao thông vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông làm chết người của Nguyễn Văn D là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả, gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 36 đến 40 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã giải quyết xong nên không xem xét.
Về tang vật: Không
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định phương tiện, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 4h20 ngày 23/8/2019, bị cáo (không có giấy phép lái xe mô tô) điều khiển xe máy BKS: 27B1-124.20 tham gia giao thông tại đường để Vàng thuộc phường Giang Biên, Long Biên, Hà Nội. Do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đi đến cửa khẩu đường Giang Biên giao với để Vàng nên D đã để mặt trước cánh yếm bên phải xe máy của D điều khiển va vào mặt ngoài bên trái gióng trên khung xe đạp của ông Đào Văn M điều khiển gây tai nạn giao thông làm ông M bị thương sau đó bị tử vong vào hồi 17h30 ngày 27/8/2019, hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường, dấu vết va chạm, kết luận giám định, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông trên phần lớn là do bị cáo điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát gây nên. Bị hại đi đúng phần đường, không có lỗi. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tại phiên tòa hôm nay cho rằng lỗi hoàn toàn của bị cáo dẫn đến vụ tai nạn giao thông là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng của người khác được Bộ luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội và an toàn giao thông trên địa bàn. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mặt khác, bị cáo là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương), gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án, bị hại đi đúng phần đường tuy nhiên bị hại bị câm, điếc bẩm sinh nên cũng phần nào ảnh hưởng đến việc tham gia giao thông. Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng, xét bị cáo phạm tội lần đầu. Hội đồng xét xử xem xét thấy cần pQcách ly bị cáo khỏi xã hội thì mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và công tác phòng ngừa tội phạm nói chung.
Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng đối với bị cáo.
Về dân sự:
Nguyễn Văn D đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Đào Văn M (do ông Đào Văn H làm đại diện hợp pháp) số tiền 80.000.000 đồng. Ông H đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ, không yêu cầu bồi thường chiếc xe đạp bị hư hỏng và không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Công an quận Long Biên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả xe máy BKS: 27B1-124.20 và 01 thùng nhựa hình chữ nhật màu xanh cho ông Đỗ Văn Q là chủ sở hữu hợp pháp. Ông Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
-Đối với hành vi của ông Đỗ Văn Q giao xe mô tô cho D, kết quả điều tra xác định: quá trình làm việc tại xưởng bánh mì, ông Q hỏi D có bằng lái xe mô tô không thì D nói đã có bằng lái xe mô tô nên ông Q giao chiếc xe máy trên cho D sử dụng. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an quận Long Biên không đặt vấn đề xử lý đối với ông Q.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung, về dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, tính từ ngày 30/3/2020.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan là: Ông Đỗ Văn Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Vương Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
| Nơi nhận: - TAND T.p Hà Nội; - VKSND q.Long Biên; - Chi cục THADS q.Long Biên; - Sở Tư pháp T.p Hà Nội; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Thị Tường Nga |