vanban.org

Bản án 221/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo NVM và bị cáo BCĐ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy . Xử phạt bị cáo NVM 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NVM +DP tang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 221/2019/HS-ST
Ngày 18-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Anh Tài

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 217/2019/TLST- HS ngày 27 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2019/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. NVM, sinh năm 1986 tại Bắc Giang; Thường trú: K3, thị trấn K, huyện LG, tỉnh BG; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông NVH (đã chết) và bà NTN, sinh năm 1958, có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/11/2013 Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang ra quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh đến ngày 31/01/2014 thì chấp hành xong; bị bắt, tạm giam từ ngày 08 tháng 3 năm 2019; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. BCĐ, sinh năm 1988 tại Thanh Hóa; thường trú: thôn 4, xã TL, huyện TX, tỉnh TH; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông BCB, sinh năm 1956 và bà NTX, sinh năm 1958; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 08 tháng 3 năm 2019; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông LHTP, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 08/3/2019 Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương trên đường tuần tra đến trước cửa hàng FPT shop địa chỉ 5/17 khu phố Hòa Lân 1, phường Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương thì phát hiện BCĐ đang điều khiển xe mô tô biển số 75G1-003.35 chở phía sau NVM có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe. Lúc này Đ dừng xe và rút chìa khóa xe có gắn móc nhựa hình trụ tròn màu trắng cầm bên tay phải, qua kiểm tra phát hiện bên trong móc khóa xe Đ đang cầm có 37 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín hai đầu (nghi vấn ma túy tổng hợp), Đ thừa nhận bên trong các đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu có chứa hêrôin của M, đồng thời kiểm tra bên trong túi xách màu xanh của đối tượng M đang đeo có 01 túi nylon miệng kéo dính đựng: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp) M khai nhận là ma túy đá; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu, M khai nhận bên trong đoạn ống hút nhựa có chứa hêrôin, 01 ống bơm kim tiêm và 01 ống thủy tinh là của Mừng.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An xác định: Vào khoảng 17 giờ ngày 08/3/2019 Đ đang điều khiển xe mô tô biển số 75G1-003.35 chở M đến khu vực bãi đất trống tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Đ dừng xe còn M đi bộ khoảng 50 mét gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi cao khoảng 01m60 mua 800.000 đồng và được người này bán cho 01 cục hêrôin rồi M cất giấu vào trong túi áo khoác. Sau đó, Đ tiếp tục chở M về phòng trọ của bạn M ở huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Tại phòng trọ này M chia cục hêrôin thành nhiều phần nhỏ và cùng Đ giúp cắt ống hút nhựa ra thành từng đoạn, cả hai cùng bỏ hêrôin vào 37 đoạn ống hút nhựa lấy hộp quẹt hàn kín lại. M cất giấu số ma túy trên vào trong móc khóa xe mô tô và tiếp tục được Đ chở về chỗ ở của Đ tại phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Khi cả hai đi đến khu phố Hòa Lân 1, phường Thuận Giao, thị xã Thuận An thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ. Riêng 01 túi ma túy đá; 01 đoạn ống hút chứa hêrôin; 01 ống bơm kim tiêm; 01 ống thủy tinh là của M đã cất giấu trước đó trong túi xách nhằm mục đích sử dụng, M khai nhận trước khi gặp Định lúc 09 giờ ngày 08/3/2019 M có đi tới khu vực ngã tư An Sương, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh gặp 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi nói giọng miền nam mua 01 túi ma túy đá và 02 đoạn ống hút chứa hêrôin với giá 100.000 đồng rồi bỏ vào túi xách, M đã lấy 01 đoạn ống hút có chứa hêrôin trên ra cùng Đ sử dụng trước đó.

Tang vật thu giữ gồm:

38 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu chứa chất màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp-hêrôin); 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy đá); 01 ống bơm kim tiêm; 01 ống thủy tinh; 01 xe mô tô mang biển số 75G1-003.35

Tại bản kết luận giám định số 223/MT-PC09 ngày 15/3/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi đi giám định là ma túy có khối lượng 0,6186 gam (M1); 0,0207 gam (M2-1) loại heroine; Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,2983 gam (M2-2) loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 231/CT-VKS-TA ngày 26 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo NVM và bị cáo BCĐ về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo NVM mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù; bị cáo BCĐ mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật như sau:

Đối với vật chứng gồm: 0,5494 gam (M1); 0,2577 gam (M2-2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 ống bơm kim tiêm; 01 ống thủy tinh là vật chứng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho NVM vào ngày 08/3/2019 tại khu vực huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh và tại ngã tư An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra công an thị xã Thuận An đã gửi thông tin về tội phạm cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi và Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền.

Đối với xe mô tô biển số 75G1-003.35 quá trình đều tra M khai nhận mua xe trên của 01 người phụ nữ tên T ở Long An vào năm 2016 với giá tiền 2.500.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán và quá trình sử dụng M đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua xác minh nguồn gốc xe mô tô trên ra tên NTT; hộ khẩu thường trú thôn 9, Phù Thủy, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, hiện nay chị T cùng gia đình không còn sinh sống ở địa phương nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã giám định truy nguyên số khung, số máy đối với xe mô tô trên, tra cứu trong cơ sở dữ liệu vật chứng và thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả nên cần xem xét giao xe mô tô trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ.

Tại phiên tòa, bị cáo NVM và bị cáo BCĐ đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai của người làm chứng đã trình bày trong quá trình điều tra và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo NVM và bị cáo BCĐ đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 08/3/2019 địa chỉ 5/17 khu phố Hòa Lân 1, phường Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương BCĐ đang điều khiển xe mô tô biển số 75G1-003.35 chở phía sau NVM có hành vi cất giấu 0,6393 gam ma túy loại hêrôin và 0,2983 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt giữ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo NVM và bị cáo BCĐ về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Bản thân các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần xử phạt các bị cáo với mức án phù hợp, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo M là người trực tiếp mua ma túy nên trách nhiệm hình sự của bị cáo M phải nặng hơn so với bị cáo Đ.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo NVM có nhân thân xấu, đã từng bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với các đối tượng bán ma túy cho Mừng chưa xác định được lai lịch địa chỉ khi nào xác minh được sẽ được xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Mẫu tinh thể có trọng lượng sau giám định 0,5494 gam (M1); 0,2577 gam (M2-2) là mẫu vật hoàn lại sau giám định được đựng trong 02 bì thư được niêm phong; 01 ống bơm kim tiêm; 01 ống thủy tinh là vật chứng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số 75G1-003.35 quá trình đều tra M khai nhận mua xe trên của 01 người phụ nữ tên T ở Long An vào năm 2016 với giá tiền 2.500.000 đồng nhưng không làm giấy tờ mua bán và quá trình sử dụng M đã làm mất giấy chứng nhận đăng ký xe. Qua xác minh nguồn gốc xe mô tô trên ra tên NTT; hộ khẩu thường trú thôn 9, Phù Thủy, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, hiện nay chị T cùng gia đình không còn sinh sống ở địa phương nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã giám định truy nguyên số khung, số máy đối với xe mô tô trên, tra cứu trong cơ sở dữ liệu vật chứng và thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với xe mô tô trên nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả nên hội đồng xét xử giao xe mô tô trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho M vào ngày 08/3/2019 tại khu vực huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh và tại ngã tư An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra công an thị xã Thuận An đã gửi thông tin về tội phạm cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Củ Chi và Quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra theo thẩm quyền.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo NVM và bị cáo BCĐ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy .

Xử phạt bị cáo NVM 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2019.

Xử phạt bị cáo BCĐ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2019.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu tinh thể có trọng lượng sau giám định 0,5494 gam (M1); 0,2577 gam (M2-2) chứa trong 02 bì thư được niêm phong ghi số vụ 223/PC09 (M1); 233/PC09 (M2), 01 ống bơm kim tiêm; 01 ống thủy tinh.

- Giao xe mô tô 02 bánh biển số 75G1-003.35, nhãn hiệu SYM, số loại ATTILA VICTORIA - VTJ, số khung RLGKA12MDAD-002699; số máy VMVT3D-D002699 trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/8/2019).

3. Về án phí: Các bị cáo NV và bị cáo BCĐ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ