- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lăng Trần Lê N - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lăng Trần Lê N, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 56/2019/HSST ngày 11/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 221/2019/HS-PT Ngày: 29-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn
Các thẩm phán: Ông Trần Nam Phương
Ông Đinh Quang Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 141/2019/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Lăng Trần Lê N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2019/HSST ngày 11/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lăng Trần Lê N, sinh năm 1989 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lăng Đức N1 (1946) và bà Nguyễn Thị V (1951); Sống chung như vợ chồng với chị Mai Thị Hoài L (1993), có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/10/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2015 (đã được xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/12/2018 – Có mặt.
- Ngoài ra còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ ngày 19/12/2018, Công an huyện B bắt quả tang Lăng Trần Lê N đang bán 01 (Một) gói nylon hàn kín, chứa tinh thể màu trắng cho Võ Minh T với giá 200.000 đồng tại phòng trọ của N thuê tại khu 2, ấp B2, xã H1, huyện B, tỉnh Đồng Nai. Tiến hành kiểm tra tại phòng trọ của N thuê, Công an phát hiện và thu giữ bên dưới gầm bếp 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, 01 cây kéo inox bên trong một hộp cơm nhựa vuông màu xanh, một bộ dụng cụ sử dụng ma túy. N khai nhận đó là ma túy và dụng cụ phân chia ma túy mà N cất giấu để sử dụng và bán cho những người nghiện ma túy khác.
Tại Bản kết luận giám định số: 62/PC09-GĐMT ngày 29/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
+ Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,0400 gam, loại Methamphetamine.
+ Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 1,6113 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 21/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lăng Trần Lê N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để điều tra.
Quá trình điều tra đã làm rõ được hành vi phạm tội của Lăng Trần Lê N như sau:
Lăng Trần Lê N nghiện ma túy từ năm 2010. Khoảng 20 giờ ngày 18/12/2018, N sử dụng điện thoại Iphone 5 liên lạc với đối tượng tên M (không rõ họ, địa chỉ) hỏi mua ma túy, sau đó N đón xe ôm đến khu vực công viên H3, TP. H4 gặp M mua một gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). N mang về phòng trọ tại khu 2, ấp B2, xã H1, huyện B phân nhỏ để sử dụng và bán lại cho những người nghiện ma túy khác. Đến khoảng 10 giờ ngày 19/12/2018, N đang ở phòng trọ thì có T đến hỏi mua 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền ma túy, N đồng ý và lấy 01 gói ma túy bán cho T thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, N còn khai nhận vào khoảng 14 giờ ngày 18/12/2018, N còn bán cho T 01 gói ma túy đá với giá 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng) tại phòng trọ của N.
Vật chứng vụ án gồm:
+ 01 gói nylon hàn kín, chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ trong túi quần Võ Minh T, đã niêm phong (ký hiệu M1), ngoài phong bì có chữ ký của T, N và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã H1, huyện B;
+ 01 gói nylon hàn kín, chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ trong phòng trọ của Lăng Trần Lê N, đã niêm phong (ký hiệu M1), ngoài phong bì có chữ ký của N và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã H1, huyện B;
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu bạc, số imei: 0136.3100.0309.424, có số sim 0933.761751 N dùng để liên lạc mua bán ma túy;
+ 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, 01 cây kéo bằng inox dùng để phân chia ma túy;
+ Số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Tại Cáo trạng số: 69/CT-VKS-TB ngày 19/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lăng Trần Lê N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án sơ thẩm số 56/2019/HSST ngày 11/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lăng Trần Lê N 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2018.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 22/4/2019, bị cáo Lăng Trần Lê N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Hành vi của bị cáo Lăng Trần Lê N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét xử bị cáo với mức án 08 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, ngoài những tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bác đơn kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Lăng Trần Lê N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ sơ thể hiện: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/12/2018, tại phòng trọ tại khu 2, ấp B2, xã H1, huyện B, bị cáo N đã có hành vi bán trái phép 0,0400 gam ma túy, loại Methamphetamine cho Võ Minh T thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, vào khoảng 14 giờ ngày 18/12/2018, bị cáo còn bán cho T 01 gói ma túy với giá 250.000 đồng tại phòng trọ của bị cáo. Quá trình kiểm tra trong phòng trọ của bị cáo, Cơ quan công an còn thu giữ 1,6113 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Lăng Trần Lê N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã hai lần có hành vi bán trái phép chất ma túy vào các ngày 18, 19/12/2018 nên đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục có hành vi bán trái phép chất ma túy. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do đó xử phạt bị cáo mức án 08 (tám) năm tù là phù hợp và thỏa đáng.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác chưa được xem xét. Bị cáo không cung cấp được tình tiết nào mới do đó kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
Về án phí:
Kháng cáo của bị cáo Lăng Trần Lê N không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lăng Trần Lê N, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 56/2019/HSST ngày 11/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Lăng Trần Lê N 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2018.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
Bị cáo Lăng Trần Lê N phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân H. Trảng Bom (2); - Viện kiểm sát nhân dân H. Trảng Bom; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Phòng PV 27 - Công an tỉnh Đồng Nai; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Trảng Bom; - Công an H. Trảng Bom; - Bị cáo – Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thành Sơn |