vanban.org

Bản án 221/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

{1} Về tình cảm: cho chị Nguyễn Thị Hằng N được li hôn với anh Nguyễn Đình H.

{2} Về án phí: chị Nguyễn Thị Hằng N phải chịu 300.000 đồng án phí li hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên lai số 0005754 ngày 28.8.2019; Chị Nguyễn Thị Hằng N đã nạp đủ án phí li hôn. {3} Nguyên đơn có quyền kháng cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hằng Ng...Nguyễn Đình H"
  • Tòa quyết gì? {1} Về tình cảm: cho chị Nguyễn Thị Hằng N được li hôn với anh Nguyễn Đình H.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 221/2019/HNGĐ-ST
Ngày 17-10-2019
(V/v kiện xin li hôn )

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đặng Bá Kiên, ông Lê Khắc Thiện

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh- Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Hải Long - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 211/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019 về việc li hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Hằng N- sinh năm 1994

Địa chỉ: xóm 8, xã N, huyện N, Nghệ An. Có mặt.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Đình H- sinh năm 1989

Địa chỉ: xóm 8, xã N, huyện N, Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin li hôn đề ngày 27/8/2019 và các lời khai, biên bản phiên hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hằng N trình bày: Chị Nguyễn Thị Hằng N kết hôn với anh Nguyễn Đình H vào ngày 19/12/2017, đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S 2, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, đến năm 2018 vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chủ yếu là do không tìm hiểu nhau kĩ càng nên không phù hợp về quan điểm sống và đã li thân. Bản thân hai vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi làm đơn xin li hôn để giải thoát ràng buộc cho nhau- mỗi người tìm hạnh phúc mới của mình.

Về con cái: Vợ chồng không có 01 con chung.

Về tài sản- nợ và vay nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Đình H không hợp tác với Tòa án; Mặc dù đã nhận tất cả các văn bản như Thông báo thụ lý và tài liệu nguyên đơn gửi kèm theo đơn khởi kiện; Thông báo phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử...nhưng anh Nguyễn Đình H vẫn không có ý kiến phản hồi, không có lời khai, lời trình bày nào và cũng không có mặt tại phiên tòa.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Nguyễn Đình H được li hôn. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai đương sự, họp phiên họp công khai chứng cứ hợp lệ; việc các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Chị Nguyễn Thị Hằng N có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh Nguyễn Đình H nhận các văn bản tài liệu của Tòa án giao trực tiếp nhưng không hợp tác, không có bản khai, ý kiến và không có mặt tại phiên Tòa nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt đương sự là đúng quy định của pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

{2} Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét ngày 19/12/2017 anh Nguyễn Đình H và chị Nguyễn Thị Hằng N đã đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S2, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn; không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp.

{2.1} Về tình cảm: Xét chị Nguyễn Thị Hằng N và anh Nguyễn Đình H lấy nhau có đăng kí kết hôn và hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng liên tục phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, quan điểm sống khác biệt dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Từ gần một năm cho đến nay vợ chồng sống ly thân, cắt đứt mọi quan hệ. Mặc dù Tòa án triệu tập với mong muốn hòa giải, phân tích để vợ chồng quay về chung sống nhưng anh vẫn không hợp tác để làm việc với Tòa án, tỏ rõ ý chí không có ý muốn đoàn tụ. Xét nguyện vọng tha thiết xin được li hôn của chị Nguyễn Thị Hằng N là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị N được li hôn với anh Nguyễn Đình H .

{2.2} Về con chung: Vợ chồng không có con chung

{2.3} Về tài sản chung, nợ và cho vay nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

{2.4} Về án phí: chị Nguyễn Thị Hằng N phải chịu 300.000đ án phí li hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Xử:

{1} Về tình cảm: cho chị Nguyễn Thị Hằng N được li hôn với anh Nguyễn Đình H.

{2} Về án phí: chị Nguyễn Thị Hằng N phải chịu 300.000 đồng án phí li hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên lai số 0005754 ngày 28.8.2019; Chị Nguyễn Thị Hằng N đã nạp đủ án phí li hôn.

{3} Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ