- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đỗ K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 221/2018/HSST Ngày 28/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng;
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông Trần Hùng Mạnh;
2- Bà Phan Thị Thúy Hà.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy- Thư ký
Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên
tòa:
Bà Vũ Thị Thủy, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/TLST-HS ngày 15/11/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ K, sinh năm 1971; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT và ở: Tổ dân phố Thượng, phường T, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đỗ B (liệt sĩ); Con bà: Khắc Thị T, sinh năm 1953; Gia đình có bị cáo là con duy nhất; Chồng: Phạm T, sinh năm 1968 (đã ly hôn); Bị cáo có 03 con (con lớn sinh năm 1989, con thứ hai sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2003).
Tiền án: Bản án số 78 ngày 16/5/2016, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt Đỗ K 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 18/10/2017.
Tiền sự: Không.
Danh chỉ bản số 0195, lập ngày 29/5/2018 tại Công an quận Bắc Từ Liêm. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/5/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1- Anh Phạm T, sinh năm 1968; ĐKHKTT: Số 18C, ngõ 165, đường G, phường G, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
2- Bà Khắc Thị T, sinh năm 1953; ĐKHKTT và ở: Tổ dân phố Trung 7, phường T, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 10/5/2018, Đỗ K đi xe ôm từ Núi Trúc, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội đến khu vực đường Đê La Thành thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông (không xác định được nhân thân lai lịch) 02 gói giấy màu trắng, quấn băng dính màu trắng kích thước 6x7cm bên trong chứa ma túy đá và 02 gói giấy nhỏ kích thước khoảng 3x3cm bên trong chứa ma túy Methamphetamine và Ketamine với giá 25.000.000 đồng. Sau khi mua được số ma túy trên, Đỗ K cất giấu vào trong cạp quần phía sau rồi gọi điện cho Phạm T (là chồng cũ đã ly hôn) đến đón và chở đến nhà Lê Quang Tuệ (Sinh năm 1974; HKTT: Tổ dân phố Hạ 11, phường T, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) để sáng ngày hôm sau đi lễ chùa. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/5/2018, Phạm T điều khiển xe máy BKS 29S1-06355 chở K đi ăn đêm, khi đến đường T thuộc phường T, quận Bắc Từ Liêm thì bị tổ công tác Công an phường T kiểm tra hành chính, do các đối tượng không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên tổ công tác đã yêu cầu K và Thành về trụ sở Công an phường làm việc. Tại cơ quan công an, Đỗ K đã giao nộp 02 (hai) gói giấy màu trắng chứa tinh thể màu trắng bên ngoài bọc băng dính trắng kích thước 6x7cm, bên trong có 02 (hai) gói nhỏ kích thước 3x3cm chứa tinh thể màu trắng, Đỗ K khai số tinh thể màu trắng trên là ma túy đá mua về sử dụng nên Công an phường T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ K và thu giữ số vật chứng trên.
Vật chứng thu giữ của Đỗ K: 02 (hai) gói tinh thể màu trắng được bọc giấy trắng, bên ngoài được dính băng dính trắng kích thước 6x7cm; bên trong có 02 (hai) gói nhỏ kích thước 3x3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, kiểu dáng Iphone 6Plus màu hồng số sim 0977919850; 01 (một) điện thoại di động Nokia 1202 màu đen số sim 01665951017 và 01 (một) túi xách da màu nâu.
Thu giữ của Phạm T: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Liberty màu trắng BKS 29S1-063.55, số máy: 4012310, số khung: 012436; 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone6 có Imei 359280064677383 màu trắng, số sim 0987227663.
Ngày 11/5/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định trưng cầu giám định số 286 trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội giám định số vật chứng đã thu giữ của Đỗ K.
Ngày 18/5/2018, Phòng kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hà Nội có Kết luận giám định số 4761/KLGĐ-PC54 kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 gói giấy màu trắng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 99,273 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine và ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 1,929 gam.
Ngày 12/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 11 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội giám định hàm lượng ma túy Methamphetamine có trong 02 gói nilon thu giữ của Đỗ K.
Ngày 10/7/2018, Phòng kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hà Nội có Kết luận giám định số 5895/KLGĐ-PC54 kết luận:
- Hàm lượng Methamphetamine trong 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (thu giữ của Đỗ K ngày 11/5/2018) là 3,81%.
Ngày 14/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 17 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội giám định hàm lượng ma túy Ketamine có trong 02 gói nilon thu giữ của Đỗ K.
Ngày 04/9/2018, Phòng kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hà Nội có Kết luận giám định số 6908/KLGĐ-PC54 kết luận:
- Hàm lượng Ketamine trong 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (thu giữ của Đỗ K ngày 11/5/2018) là 19,93%.
Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của Đỗ K cho kết quả dương tính (có sử dụng ma túy).
Tại Cơ quan công an, Đỗ K khai nhận hành vi như trên và khai mục đích mua ma túy về để sử dụng dần, K không bán ma túy. Việc K mua và cất giấu ma túy trong người Phạm T không biết. Số ma túy trên K mua của một người đàn ông ở khu vực đường Đê La Thành thuộc phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội, K không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại của người đàn ông này. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra mở rộng.
Phạm T khai Đỗ K gọi điện cho Thành đến đón đi uống nước và vào nhà Lê Quang Tuệ chơi, việc K mua và cất giấu ma túy ở trong người Thành không biết. Thành khai sử dụng ma túy từ năm 2015 và sử dụng ma túy lần gần đây nhất là ngày 10/5/2018. Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của Phạm T cho kết quả dương tính (có sử dụng ma túy) nên ngày 05/11/2018, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với chiếc xe máy Liberty màu trắng BKS 29S1-063.55, số máy: 4012310, số khung: 012436; thu giữ của anh Phạm T; anh T khai mượn chiếc xe máy trên của bà Khắc Thị T là mẹ đẻ của Đỗ K. Bà Khắc Thị T khai bà mua chiếc xe trên vào tháng 11/2017 của chị Nguyễn Thị Lan (Sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 427, Hoàng Công Chất, Phú Diễn, Bắc Từ Liêm, Hà Nội) với giá 25.000.000 đồng. Ngày 09/5/2018, bà cho Phạm T và Đỗ K mượn xe để làm phương tiện đi lại. Chị Nguyễn Thị Lan khai chị mua chiếc xe trên vào khoảng tháng 5/2015 của bà Nguyễn Thị Khóa (Sinh năm 1967, Địa chỉ: Thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) với giá 28.000.000 đồng, đến tháng 11/2017 chị đã bán xe cho bà Khắc Thị T với giá 25.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Khóa khai bà mua mới chiếc xe trên vào tháng 8/2011 và đăng ký xe mang tên bà, khoảng tháng 5/2018 bà bán chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị Lan với giá 28.000.000 đồng. Tra cứu xe tại Đội Cảnh sát giao thông Công an quận Bắc Từ Liêm xác định bà Nguyễn Thị Khóa là người đứng tên đăng ký chiếc xe trên, tra cứu xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng, xe đang thu giữ theo hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khắc Thị T trình bày: Bà mua chiếc xe máy Liberty vào tháng 11/2017, bà vẫn quản lý, sử dụng xe, thỉnh thoảng bà cho Đỗ K mượn xe. Bà không biết K sử dụng xe đi mua ma túy, bà đề nghị HĐXX xem xét trả lại xe cho bà.
- Bản cáo trạng số 219/CT-VKS, ngày 08/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố Đỗ K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b,h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b,h khoản 3 Điều 249; điểm s,x khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đỗ K mức án từ 13 năm 06 tháng tù đến 14 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng đã thu giữ: Tịch thu tiêu hủy ma túy và 01 túi xách da màu nâu; trả lại điện thoại di động cho Đỗ K và Phạm T; trả lại 01 xe máy Liberty cho bà Khắc Thị T.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người liên quan;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những căn cứ xác định tội danh: Khoảng 02giờ 30phút ngày 11/5/2018, tại đường T, phường T, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, tổ công tác Công an phường T phát hiện bắt quả tang Đỗ K có hành vi tàng trữ trái phép 99,346 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,384 gam ma túy loại Ketamine.
Hành vi của Đỗ K đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo tàng trữ 99,346 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,384 gam ma túy loại Ketamine nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm b,h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm tổn hại sức khỏe con người, là mầm mống của các loại tội phạm khác, nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ… trái phép chất ma túy, nhưng vì là đối tượng nghiện nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Vì vậy, đối với bị cáo cần áp dụng một hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố đẻ là liệt sĩ; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s,x khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện, là lao động tự do thu nhập không ổn định. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy Methamphetamine và ma túy Ketamine đã giám định bên ngoài có chữ ký giáp lai của Đỗ K và giám định viên, cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, kiểu dáng Iphone 6Plus màu hồng bên trong chứa sim 0977919850; 01 (một) điện thoại di động Nokia 1202 màu đen bên trong chứa sim 01665951017 thu giữ của Đỗ K không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone6 có Imei 359280064677383 màu trắng, số sim 0987227663 thu giữ của anh Phạm T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho anh Thành.
- 01 (một) túi xách da màu nâu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Liberty màu trắng BKS 29S1-063.55, số máy: 4012310, số khung: 012436. Quá trình điều tra xác định bà Khắc Thị T là chủ sở hữu chiếc xe máy Lirbety BKS 29S1-06355, khi K và Thành mượn xe, bà không biết họ đi đâu, làm gì, vì vậy cần trả lại chiếc xe máy trên cho bà T.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Đỗ K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm b,h khoản 3 Điều 249; điểm s,x khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: phạt bị cáo Đỗ K 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2018.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy Methamphetamine và ma túy Ketamine đã giám định bên ngoài có chữ ký giáp lai của Đỗ K và giám định viên.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi xách da màu nâu.
- Trả lại cho bị cáo Đỗ K 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, kiểu dáng Iphone 6Plus màu hồng bên trong chứa sim 0977919850; 01 (một) điện thoại di động Nokia 1202 màu đen bên trong chứa sim 01665951017.
- Trả lại cho anh Phạm T 01 (một) điện thoại kiểu dáng Iphone6 có Imei 359280064677383 màu trắng, số sim 0987227663.
- Trả lại cho bà Khắc Thị T 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Liberty màu trắng BKS 29S1-063.55, số máy: 4012310, số khung: 012436.
Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 48/19 ngày 13/11/2018 của Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
3. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đỗ K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khắc Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo, người liên quan; - VKS ND quận Bắc Từ Liêm; TÒA - VKSND TP Hà Nội; - TAND TP Hà Nội; - Công an quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Lưu HS - VP. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN Dƣơng Thị Thu Phƣợng |