- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Thu H đối với bị đơn ông Nguyen Thai D:
- Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2202/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26-12-2022 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trịnh Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Thanh;
2. Ông Trần Văn Triều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 26/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 80/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6189/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Thu H, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Số 125/3 Khu phố 1, phường TTN, Quận X, Thành phố H.
- Bị đơn: Ông Nguyen Thai D, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Số 4683 Canoga St # Montclair CA 91763, USA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản khai, bà Vũ Thị Thu H trình bày:
Bà Vũ Thị Thu H và ông Nguyen Thai D kết hôn năm 2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố H ngày 13/02/2007, vào sổ đăng ký kết hôn số 608 quyển số 04 ngày 13/02/2007.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung nhưng hai bên không tìm được hướng giải quyết, ông Nguyen Thai D trở về nước Hoa Kỳ (USA) sinh sống và làm việc, bà Vũ Thị Thu H vẫn sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Đến năm 2008, vợ chồng đã ly thân, không còn liên lạc qua lại cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Vũ Thị Thu H yêu cầu ly hôn ông Nguyen Thai D.
Con chung: Không có.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đối với ông Nguyen Thai D:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố H đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày mở phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm số 578/TB-TA ngày 20/10/2021 cho ông Nguyen Thai D theo quy định của pháp luật.
Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được văn bản của Bộ Tư pháp về kết quả tống đạt văn bản cũng như không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của ông Nguyen Thai D và ông Nguyen Thai D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ngày 22/8/2022, Tòa án nhân dân Thành phố H đã có Công văn gửi Bộ Tư pháp với nội dung đề nghị Bộ Tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Nguyen Thai D, quốc tịch Hoa Kỳ (USA), cư trú tại địa chỉ 4683 Canoga St # Montclair CA 91763, USA. Tuy nhiên, đến ngày xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được văn bản về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của Bộ Tư pháp; ông Nguyen Thai D cũng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bà Vũ Thị Thu H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, ông Nguyen Thai D vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Vũ Thị Thu H và ông Nguyen Thai D không còn tồn tại từ năm 2008, mỗi người sinh sống một nơi, không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Thu H ly hôn ông Nguyen Thai D; Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Thu H yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyen Thai D, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyen Thai D đang cư trú tại nước Hoa Kỳ (USA) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân Thành phố H theo quy định tại Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét sự vắng mặt của nguyên đơn bà Vũ Thị Thu H và bị đơn ông Nguyen Thai D tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Vũ Thị Thu H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn ông Nguyen Thai D:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố H đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày mở phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm số 578/TB-TA ngày 20/10/2021 cho ông Nguyen Thai D theo quy định của pháp luật.
Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được văn bản của Bộ Tư pháp về kết quả tống đạt văn bản cũng như không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của ông Nguyen Thai D và ông Nguyen Thai D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ngày 22/8/2022, Tòa án nhân dân Thành phố H đã có Công văn gửi Bộ Tư pháp với nội dung đề nghị Bộ Tư pháp thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Nguyen Thai D, quốc tịch Hoa Kỳ (USA), cư trú tại địa chỉ 4683 Canoga St # Montclair CA 91763, USA. Tuy nhiên, đến ngày xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được văn bản về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của Bộ Tư pháp; ông Nguyen Thai D cũng vắng mặt không có lý do.
Căn cứ Điều 227, Điều 228, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Thu H đối với bị đơn ông Nguyen Thai D, xét thấy:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị Thu H đã cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; đối với bị đơn ông Nguyen Thai D vắng mặt không có lý do nên được xem bị đơn ông Nguyen Thai D từ bỏ nghĩa vụ chứng minh theo qui định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà Vũ Thị Thu H cung cấp và Tòa án thu thập để xét xử vụ án.
Quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/02/2007, vào sổ đăng ký kết hôn số 608 quyển số 04 ngày 13/02/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp cho bà Vũ Thị Thu H và ông Nguyen Thai D, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Vũ Thị Thu H và ông Nguyen Thai D là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà Vũ Thị Thu H yêu cầu ly hôn ông Nguyen Thai D với lý do sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung nhưng hai bên không tìm được hướng giải quyết, ông Nguyen Thai D trở về nước Hoa Kỳ (USA) sinh sống và làm việc, bà Vũ Thị Thu H vẫn sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Đến năm 2008, vợ chồng đã ly thân, không còn liên lạc qua lại cho đến nay. Đối với ông Nguyen Thai D, Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp đúng quy định của pháp luật nhưng ông Nguyen Thai D không có phản hồi, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa bà Vũ Thị Thu H và ông Nguyen Thai D không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; điều kiện sống mỗi người mỗi nơi không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị Thu H ly hôn ông Nguyen Thai D theo quy định tại Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Vũ Thị Thu H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Vũ Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa: Như nhận định nêu trên xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Thu H đối với bị đơn ông Nguyen Thai D:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị Thu H ly hôn ông Nguyen Thai D.
Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/02/2007, vào sổ đăng ký kết hôn số 608 quyển số 04 ngày 13/02/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp cho bà Vũ Thị Thu H và ông Nguyen Thai D không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Vũ Thị Thu H phải chịu là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0093818 ngày 22/3/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H.
5. Về quyền kháng cáo bản án:
Bà Vũ Thị Thu H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyen Thai D cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.H; - VKSND cấp cao tại TP.H; - VKSND TP.H; - Cục THADS TP.H; - UBND TP.H (Sở Tư pháp); - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Trịnh Minh Đức |