- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 220/2026/HS-PT Ngày: 07 - 9 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Hoàn
Ông Nguyễn Thế Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nghị là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 242/2026/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Hoàng Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Văn T, sinh ngày 23/9/1995 tỉnh Lâm Đồng; Số Căn cước công dân: 068095001659; Nơi cư trú: Số F T, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1 và bà Nguyễn Mai T2; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 14/10/2022, bị Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định số 2197/QĐ áp dụng biện pháp xử lý giáo dục tại xã, phường trong thời gian 03 tháng; đến ngày 14/01/2023 chấp hành xong. Ngày 25/10/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định số 31/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 12 tháng, chấp hành xong vào ngày 25/8/2025.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Bản án sơ thẩm:
Qua phản ánh của quần chúng nhân dân tại đường L, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng có 01 đối tượng nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, Công an phường C – Đ, tỉnh Lâm Đồng đã cử tổ công tác xác minh và mời đối tượng nghi vấn là Hoàng Văn T về trụ sở Cơ quan Công an để làm việc. Tại Cơ quan Công an, Hoàng Văn T khai nhận như sau: Hoàng Văn T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2021, loại ma túy đá. Ngày 13/9/2023, T bị Công an phường H1, thành phố Đ (nay là Công an phường L – Đ), tỉnh Lâm Đồng phát hiện và lập hồ sơ sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 25/10/2023, T bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 31/QĐ-TA trong thời gian 12 tháng. Đến ngày 25/8/2025, T chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy theo Giấy chứng nhận số 846/CN-CSCNMT và trở về địa phường trình diện cơ quan chức năng. Đến ngày 10/9/2025, Ủy ban nhân dân phường L – Đ, tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 780/QĐ-UBND đối với T trong thời gian từ ngày 08/9/2025 đến ngày 08/9/2027. Sau khi chấp hành xong quyết định cai nghiện bắt buộc, T làm thợ cắt tóc tại quán H2 ở địa chỉ số B N, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/12/2025, khi T đang cắt tóc tại quán thì có đối tượng tên Đ là bạn cũ của T trú tại xã N - L, tỉnh Lâm Đồng (T không rõ nhân thân lai lịch) đến quán cắt tóc. Sau khi T cắt tóc xong cho Đ thì Đ rủ T ra Công viên B tại đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng chơi, T đồng ý. Đoàn điều khiển xe ô tô màu trắng, loại xe 7 chỗ (T không rõ hiệu xe và biển số xe ô tô) đi trước, còn T điều khiển xe mô tô đi theo sau. Khi đi đến khu vực đoạn đường T gần công viên B phường X - Đ thì Đ điều khiển xe ô tô vào lề đường và nói T lên xe ô tô của Đ, T đồng ý và lên ghế phụ của xe ô tô. Lúc này, Đ lấy một chai nhựa nhãn hiệu Sting có nước lọc gần đầy chai và một cóng (ống) thủy tinh bên trong có chứa tinh thể màu trắng, Đoàn bật lửa (loại bật lửa khò) để đốt, Đ nói với T bên trong cóng thủy tinh là ma túy đá. Khi Đ dùng bật lửa đốt vào ống thủy tinh có chứa ma túy đá thì có khói trắng bốc ra, Đoàn hút khoảng 4-5 hơi. Sau đó, T lấy dụng cụ sử dụng ma túy từ Đ và dùng bật lửa đốt tiếp vào ống thủy tinh, khi có khói màu trắng bên trong chai S thì T hút 4-5 hơi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi xe mô tô về nhà tại F T, phường L - Đ, còn Đ đi đâu T không biết. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/12/2025, T đến nhà trọ của bạn tại đường L, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng thì bị Công an phường C - Đ phát hiện T có biểu hiện nghi vấn liên quan đến sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành mời T về trụ sở Cơ quan Công an làm việc, tiến hành xét nghiệm kết quả T dương tính với ma túy. Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 1628/KL-KTHS ngày 21/12/2025 của Phòng K, Công an tỉnh L, kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine, sản phẩm chuyển hoá của chất ma túy Methamphetamine (Amphetamine) trong mẫu nước tiểu của Hoàng Văn T gửi giám định.
Biên bản xác định hiện trường hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/12/2025 tại đoạn đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng tiến hành xác định nơi Hoàng Văn T sử dụng ma tuý. Đối với tình trạng hiện trường khi có mặt không còn nguyên vẹn như ban đầu do thời gian đã lâu.
Biên bản xét nghiệm chất ma tuý, biên bản làm việc hồi 16 giờ ngày 12/12/2025 tại Công an phường C - Đ tiến hành xét nghiệm đối với Hoàng Văn T, kết quả T dương tính với ma túy đá và tổng hợp.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng đã quyết định:
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 13/7/2026, bị cáo Hoàng Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Tuy nhiên, xét thấy trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, hiện đang bị tạm giam.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và điểm Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về việc xét xử vắng mặt bị cáo:
Vào ngày 20/8/2026, Tòa án đã tống đạt trực tiếp Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập bị cáo tham gia phiên tòa phúc thẩm. Tuy nhiên, trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm, bị cáo đã bị bắt tạm giam về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, nên tại phiên tòa hôm nay bị cáo vắng mặt.
Với lý do trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt bị cáo là đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Hoàng Văn T đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, thời gian quản lý từ ngày 08/9/2025 đến ngày 08/9/2027 theo Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 10/9/2025 của Chủ tịch UBND phường L – Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, vào ngày 07/12/2025, bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, sản phẩm chuyển hoá của chất ma túy Methamphetamine (A) tại đường T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng (Theo Kết luận giám định số 1628/KL-KTHS ngày 21/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh L).
Với việc thực hiện hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định, phù hợp với nhân thân và điều khoản mà bị cáo bị xét xử theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt là từ 02 năm đến 03 năm tù. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung, đảm bảo việc đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay, nhất là tội sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngoài ra, trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm theo đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, hiện đang bị tạm giam.
Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn phù hợp.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2026/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/9/2026).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TA, VKS khu vực 1 - Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Những người tham gia tố tụng; - Công an phường Cam Ly – Đà Lạt; - PC04, PV06 - Công an tỉnh Lâm Đồng; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa Hình sự. Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Công Hoàn Nguyễn Thế Hạnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hồng Thái |