- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV. Buộc anh Nguyễn Văn Sao trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV số tiền 135.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 220/2026/DS-ST Ngày 28-5-2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Kim Kết
Ông Thái Hoàng Bo
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 275/2025/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV (viết tắt là Ngân hàng); địa chỉ trụ sở: Số 89 Láng Hạ, phường ĐĐ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức L – Trưởng phòng
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Hoàng H - Chuyên viên xử lý nợ. (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú: Ấp BG, xã TP, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Nguyễn Hoàng H trình bày:
Ngày 02/7/2024, anh S đã vay Ngân hàng 31.000.000đ, thời hạn 12 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 24%/năm được cố định trong suốt thời gian vay. Số tiền nợ tạm tính đến ngày 28/5/2026 là 41.214.830đ (nợ gốc 30.988.594đ, nợ lãi 10.226.236đ).
Ngày 28/11/2024, anh S đã vay Ngân hàng 69.000.000đ, thời hạn 60 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 27%/năm được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất, sau đó lãi suất điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần, theo định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm, mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn cho vay được đề nghị (+) biên độ điều chỉnh tối đa là 19% được xác định theo Biểu lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng được niêm yết tại wedsite của Ngân hàng. Sau khi vay, anh Sao đã thanh toán 10.796.493đ ( 2.788.346đ tiền vốn và 8.008.147đ tiền lãi), số tiền nợ tạm tính đến ngày 28/5/2026 là 94.689.286đ (nợ gốc 66.211.654đ, nợ lãi 28.477.632đ).
Tổng số tiền nợ của hai khoản vay 135.904.116đ.
Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV khởi kiện yêu cầu anh S trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV số tiền nợ 135.904.116đ và lãi phát sinh từ ngày 29/5/2026 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Đối với anh Nguyễn Văn S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Hoàng H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên là phù hợp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Theo lời trình bày của phía nguyên đơn; Hợp đồng cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán ngày 02/7/2024 và Hợp đồng cho vay ngày 28/11/2024, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Ngày 02/7/2024, anh S đã vay Ngân hàng 31.000.000đ, thời hạn 12 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 24%/năm được cố định trong suốt thời gian vay. Anh Sao còn nợ Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2026 là 41.214.830đ (nợ gốc 30.988.594đ, nợ lãi 10.226.236đ).
Ngày 28/11/2024, anh S đã vay Ngân hàng 69.000.000đ, thời hạn 60 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 27%/năm được cố định từ ngày giải ngân đến kỳ điều chỉnh lãi suất gần nhất, sau đó lãi suất điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần, theo định kỳ vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm, mức lãi suất tham chiếu áp dụng đối với khoản vay có thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn cho vay được đề nghị (+) biên độ điều chỉnh tối đa là 19% được xác định theo Biểu lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân tại Ngân hàng được niêm yết tại wedsite của Ngân hàng. Anh S còn nợ Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 28/5/2026 là 94.689.286đ (nợ gốc 66.211.654đ, nợ lãi 28.477.632đ).
Đối với anh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng các đương sự không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc anh S trả cho Ngân hàng số tiền 135.904.116đ.
Về yêu cầu trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 29/5/2026 cho đến khi anh Sao hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là phù hợp Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí 2.740.000đ được nhận lại. Anh S phải chịu 135.904.116đ x 5% = 6.795.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 288 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 90, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV. Buộc anh Nguyễn Văn Sao trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV số tiền 135.904.116đ (một trăm ba mươi lăm triệu chín trăm lẻ bốn nghìn một trăm mười sáu đồng).
Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi mà anh Nguyễn Văn S phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 28/5/2026 thì kể từ ngày 29/5/2026 anh S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà anh Sao phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng thương mại cổ phần VNTV không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí số tiền 2.740.000đ (hai triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) theo biên lai số 0003331 ngày 01 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được nhận lại. Anh Nguyễn Văn S phải chịu 6.795.000đ (sáu triệu bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cà Mau; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Cà Mau; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Quốc Trạng |