- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 220/2021/HS-ST Ngày: 26/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Khánh Tùng.
Ông Trần Văn Sơn.
- Thư ký phiên toà: Nguyễn Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 220/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/2021/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 7 năm 2021 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản O, xã N L, huyệ n Đ B, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Con ông: Cà Văn H (đã chết); Con bà: Lò Thị Sinh; sinh năm 1964; Vợ: Lò Thị T; sinh năm 1993 (đã ly hôn năm 2018) và có 01 con sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06/5/2021 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/5/2021, Cà Văn Đ đi bộ từ nhà ở Bản O, xã N L, huyệ n Đ B , tỉnh Điện Biên và cầm theo một tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng với mục đích đi tìm mua Heroine về sử dụng. Khi Bị cáo đi bộ vào trong khu vực Bản X, xã T A, huyện Đ B, Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Kinh, khoảng 30 tuổi (Bị cáo không biết tên và địa chỉ) đang đứng ở đường. Bị cáo hỏi người đàn ông đó: “Có Heroine bán không? Bán cho 50.000 đồng” Người đàn ông nói: “Có, đưa tiền đây” Sau đó Bị cáo lấy tiền ở trong người ra tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền, rồi đưa lại cho Bị cáo 02 gói, trong đó 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng và 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, miệng 02 gói đều được hơ lửa hàn kín. Bị cáo cầm lấy và xem bên trong 02 gói đều có Heroine, rồi đồng ý mua. Sau đó Bị cáo cất 02 gói Heroine đó vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Còn người đàn ông đi đâu Bị cáo không biết. Khi Bị cáo đi bộ về đến khu vực Bản O, xã N L, huyện Đ B thì bị Tổ công tác Công an xã N L, huyện Đ B phát hiện và thu giữ tại túi quần bên phải Bị cáo đang mặc 02 gói Heroine trong đó 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng và 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, miệng 02 gói đều được hơ lửa hàn kín. Với nội dung trên Tổ công tác mời người chứng kiến đến tiến hành đưa Bị cáo cùng vật chứng thu giữ về trụ sở UBND xã Noong Luống, huyện Đ B để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo đúng quy định. Sau khi hoàn tất thủ tục, Tổ công tác đưa Bị cáo cùng toàn bộ hồ sơ, vật chứng của vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B để điều tra làm rõ.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 06/5/2021 đã xác định như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine của Cà Văn Đ có khối lượng là 0,15 gam, trích mẫu 0,05 gam gửi giám định không hoàN Lại. Vật chứng còN Lại 0,1 gam.
Tại bản kết luận giám định số 502/GĐ-PC09 ngày 14/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu cục bột màu trắng được trích ra từ vật chứng thu giữ của Cà Văn Đ gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Tại bản cáo trạng số 169/CT-VKSĐB ngày 29/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B truy tố bị cáo Cà Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên giữ nguyên quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 0,15 gam Heroine, trích gửi giám định 0,05 gam không hoàN Lại mẫu vật. Vật chứng còN Lại 0,1 gam Heroine.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quảN Lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 19 giờ 15 phút ngày 06/5/2021, tại khu vực Bản O, xã N L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,15 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản Lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên Là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản Lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của Bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bản thân Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bố đẻ của Bị cáo là ông Cà Văn H được Nhà nước tặng thưởng Huân huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn Lên tại xã N L, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà làm ruộng cùng gia đình.
Năm 2001 kết hôn với chị Lò Thị T và có 01 con sinh năm 2012. Đến năm 2018 Bị cáo ly hôn với chị Lò Thị T.
Bị cáo nghiện ma túy từ năm 2011 cho đến ngày bị bắt. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Ngày 06/5/2021 Bị cáo bị Công an xã N L, huyện Đ B bắt Cơ quan CSĐT-Công an huyện Đ B ra Quyết định khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với Bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập chủ yếu dựa vào lao động sản xuất nông nghiệp ngoài ra không có thu nhập nào khác, nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
Về vật chứng vụ án gồm: 0,15 gam Heroine, trích gửi giám định 0,05 gam không hoàn Lại mẫu vật. Vật chứng còn Lại 0,1 gam Heroine, cần tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Kinh, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) đã bán ma túy cho Bị cáo do Bị cáo không biết tên và địa chỉ, quá trình điều tra không xác minh, làm rõ được. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Về hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản Lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
Về kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn Đ phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (06/5/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
* Tịch thu tiêu hủy: 0,15 gam Heroine (đã trích gửi giám định 0,05 gam không hoàn Lại. Vật chứng còn Lại 0,1gam Heroine).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/6/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quảN Lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát huyện ĐB; - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên; - Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên; - HSNV Công an huyện ĐB; - CQĐT Công an huyện ĐB; - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB; - Chi cục Thi hành án dân sự HĐB; - Công an trại tạm giam; - Sở tư pháp tỉnh ĐB; - Hồ sơ THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Tố Loan |