vanban.org

Bản án 220/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 13/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo U Sơ T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/3/2018.

Áp dụng : Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo U Sơ T 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo U Sơ T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/3/2018.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 220 /2018/HSST
Ngày 13 / 6 /2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Âu Văn Hồ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Bình Nguyên , chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 208/2018/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2018/HSST-QĐ ngày30/05 /2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: U Sơ T, tên gọi khác: không; sinh ngày 20 tháng 3 năm 1974; ĐKHKTT: Tổ 17, phườ ng Q, Thành phố Thái Nguyên ; nghề nghiệp: không; Dân tộc: Sơ Rá; Văn hoá: 10/12; con ông U Sơ T (đã chết) và bà Đào Thị T, sinh năm 1949; bị cáo là con thứ nhất trong gia đinh. Vợ, con: Chưa có.

̀

Tiền án: Tại bản án số 51/1999/HSST ngày 17/5/1999, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 42 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Đưa hối lộ”.

Tiền sự: Ngày 16/10/2015, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 27/10/2017.

Nhân thân: Tại bản án số 175/1996/HSST ngày 15/5/1996 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng chất ma túy” chấp hành xong bản án vào tháng 5/2004.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên từ ngày 29/3/2018 đến nay.

*Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1960 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 17, phường Quang Trung, Tp Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 29/3/2018 tổ công tác của Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 20 phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Nam thanh niên khai tên là U Sơ T và tự giác lấy từ trong ống tay áo bên trái T đang mặc 01 gói vỏ kẹo màu đỏ bên trong có 04 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột màu trắng. T khai đó là Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong vật chứng theo quy định.

Hồi 15 giờ ngày 29/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã tiến hành cân xác định số chất bột màu trắng trong 04 gói giấy bạc màu trắng có khối lượng 0,169 gam.

Tại bản kết luận giám định số 537/KL-PC54 ngày 05/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: chất bột màu trắng thu giữ của U Sơ T là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,169 gam.

Tại Cơ quan điều tra U Sơ T khai nhận: khoảng 8 giờ 40 phút ngày 29/3/2018, T đi bộ từ nhà đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ 20, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên để mua Heroine sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 04 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa Heroin với giá 200.000đồng, được đựng trong 1 gói vỏ kẹo màu đỏ. Sau khi mua xong, T cất Heroine vào ống tay áo bên trái T đang mặc để đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Quang Trung phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu T1. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản và lưu giữ tai kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 216/CT-VKSTPTN ngày 01/5/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định truy tố U Sơ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đi ̣nh ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo U Sơ T khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên bản cáo trạng số216/CT-VKSTPTN ngày 01/ 5 /2018, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo U Sơ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo U Sơ T từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy một bì niêm phong có ký hiệu T1.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thành phố Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm pháp quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Bản kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: U Sơ T đã có hành vi mua 04 gói chất bột màu trắng hêroine có khối lượng 0,169 gam mục đích sử dung cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo U Sơ T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chât ma túy thuộc các trương hợp sau đây, thì bị phạt tù 01 năm đến 05 năm”

C, Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 0,5 gam.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn của xã hội, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã hai lần bị Tòa án xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng chất ma túy”. Năm 2015 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 27/10/2017, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diên Viện kiển sát đề nghị xử phạt bị cáo U Sơ T từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam. Hội đồng xét xử thấy; bị cáo là người có nhân thân xấu, phạm tội lần thuộc trường hợp tái phạm. Do vậy, cần lên cho bị cáo một mức án cao hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát mới phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua Hêrôine mục đích để sử dụng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy một phong bì niêm một phong ký hiệu T1;

. Trong vụ án này bị cáo U Sơ T khai mua Hêrôine của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đường dân sinh thuộc tổ 20, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo U Sơ T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/3/2018.

Áp dụng : Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo U Sơ T 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu T1; (Hiện vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo biên bản giao nhận ngày 27/4/2018).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 về án phí, lệ phí; Bị cáo U Sơ T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ