- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cứ A C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cứ A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 220/2018/HS-ST Ngày 08-10-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Ơn
Ông Lò Văn Thƣơng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 08 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 229/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Cứ A C, sinh năm 1955 tại Điện Biên; Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản L2, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Lớp 3/10.
Dân tộc: H'Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Cứ A B, đã chết; Con bà: Mùa Thị D, đã chết.
Bị cáo có vợ Vàng Thị D, sinh năm 1960 và 09 con, con lớn nhất sinh năm 1975, con nhỏ nhất sinh năm 1993.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29/5/2013, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử bị cáo Cứ A C 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bản án đối với bị cáo đã đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/6/2018, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ ngày 14/6/2018, Cứ A C mua được 07 viên Methamphetamine và 06 gói nhỏ Heroine tại nhà ở của bị cáo với giá 400.000 đồng của một người đàn ông dân tộc H'Mông khoảng 35 tuổi bị cáo không rõ lai lịch. Mua được ma túy, bị cáo lấy một mảnh ni lông màu trắng gói 07 viên Methamphetamine lại rồi cất giấu cùng 06 gói Heroine vào túi quần đang mặc. Trong khoảng thời gian từ khi mua được ma túy cho đến khi bị bắt, Cứ A C sử dụng hết 03 viên Methamphetamine và 03 gói Heroine. Số ma túy còn lại là 04 viên Methamphetamine và 03 gói Heroine bị cáo tiếp tục cất giấu vào túi quần bên trái mặc trên người. Hồi 11 giờ 10 phút ngày 15/6/2018 khi bị cáo vừa ra khỏi nhà để lên nương thì bị tổ công tác Đồn Công an Nà Tấu phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng của bị cáo.
Cáo trạng số 174/CT-VKSĐB ngày 06/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Cứ A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Cứ A C từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ phạm tội:
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 11 giờ 20 phút ngày 15/6/2018 bút lục 01, 02, người bị bắt Cứ A C công nhận đã bị cơ quan Công an bắt quả tang thu giữ 01 gói được gói bằng ni lông màu trắng, mở bên trong có 04 viên nén màu hồng; một gói được gói bên ngoài bằng nilong màu hồng, mở bên trong có các cục bột màu trắng nghi là Heroine; một túi ni lông màu trắng, bên trong túi có chứa 02 gói bằng ni lông màu hồng, bên trong các gói đều có các cục bột màu trắng nghi là Heroine. Vật chứng bị thu giữ bị cáo Cứ A C khai và thừa nhận là của bị cáo.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 15 giờ 45 phút ngày 15/6/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bút lục số 04, 05 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Cứ A C là 0,25 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,14 gam và 0,35 gam Methamphetamine, trích mẫu gửi giám định 0,08 gam.
Kết luận giám định số 605/GĐ-PC54 ngày 27/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 25 thì mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Cứ A C gửi giám định là chất ma túy loại loại Heroine; mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Cứ A C gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA danh mục I; Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, mục IIC danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Các biên bản ghi lời khai, hỏi cung bị can của Cứ A C từ bút lục số 45 đến 64 chứng minh bị cáo Cứ A C đã tàng trữ trái phép 0,25 gam Heroine và 0,35 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo thừa nhận đã mua số ma túy của một người đàn ông dân tộc H'Mông khoảng 35 tuổi bị cáo không rõ lai lịch với giá 400.000 đồng để sử dụng.
Bản án số 149/2013/HSST ngày 29/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đ tại bút lục số 33 đến 35 chứng minh Cứ A C đã bị Tòa án xét xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Biên bản xác minh hồi 08 giờ 00 phút ngày 27/8/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xác minh Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ tại bút lục số 39 chứng minh bị cáo đã chấp hành xong phần án phí đối với bản án số 149/2013/HSST ngày 29/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đ.
Biên bản xác minh hồi 08 giờ 30 phút ngày 24/8/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xác minh Trưởng Công an xã M, huyện Đ tại bút lục số 40 chứng minh Cứ A C chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống từ tháng 12 năm 2014. Chứng cứ cũng xác định bị cáo Cứ A C cung cấp các giấy tờ về nhân thân sinh năm 1955 và bị cáo Cứ A C trong bản án số 149/2013/HSST ngày 29/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đ sinh năm 1954 cùng là một người. Do trước đây có sai sót trong quản lý nhân khẩu hộ khẩu nên bản án năm 2013 của Tòa án mới ghi bị cáo Cứ A C sinh năm 1954.
Bản sao chứng thực Giấy chứng minh nhân dân tại bút lục số 37 chứng minh Cứ A C sinh ngày 01/01/1955 số chứng minh nhân dân 040490521 do Công an tỉnh Điện Biên cấp ngày 21/01/2016.
Bản Kết luận điều tra số 171/KLĐTVAHS ngày 30/8/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ kết luận chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đưa bị can Cứ A C ra truy tố công khai trước pháp luật về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Cứ A C có tội. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cứ A C có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng ma túy bị thu giữ của Cứ A C là 0,25 gam Heroine và 0,35 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy được cộng vào để làm căn cứ truy tố, xét xử đối với bị cáo là 0,6 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.
Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo sinh ra và lớn lên ở Điện Biên, tuổi đời bị cáo đã cao nhưng do nghiện chất ma túy nhiều năm bị cáo không từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính mà bị cáo phải nhận thêm một bản án nữa trong đời. Ngày 29/5/2013, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử bị cáo Cứ A C 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính từ tháng 12 năm 2014 và đã đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự.
Tại bản án số 149/2013/HSST ngày 29/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đ bị cáo Cứ A C sinh năm 1954. Tuy nhiên lần phạm tội này cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thu thập chứng cứ là Giấy chứng minh nhân dân mang tên Cứ A C sinh ngày 01/01/1955 số chứng minh nhân dân 040490521 do Công an tỉnh Điện Biên cấp ngày 21/01/2016. Công an xã M cũng xác nhận Cứ A C sinh năm 1954 trong bản án số 149/2013/HSST ngày 29/5/2013 và Cứ A C sinh năm 1955 trong giấy chứng minh nhân dân là cùng một người. Hội đồng xét xử chấp nhận năm sinh giấy chứng minh nhân dân của bị cáo Cứ A C sinh năm 1955.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã đương nhiên được xóa án tích do vậy lần phạm tội này bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cố gắng cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Cứ A C.
Các vấn đề khác:
Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc H'Mông khoảng 35 tuổi, bị cáo không biết rõ lai lịch. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
Vật chứng của vụ án là 0,25 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,14 gam và 0,35 gam Methamphetamine, trích mẫu gửi giám định 0,08 gam. Vật chứng này tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ đồng thời bị cáo có đơn đề nghị miễn án phí do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Cứ A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Cứ A C 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 15/6/2018.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,25 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,14 gam và 0,35 gam Methamphetamine, trích mẫu gửi giám định 0,08 gam không hoàn lại đối tượng giám định. Vật chứng được đựng trong phong bì niêm phong có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 00 phút ngày 13/9/2018 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
2. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 08/10/2018.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Đ; - Nhà tạm giữ Công an huyện Đ; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |