vanban.org

Bản án 220/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Nguyễn Hữu P có trách nhiệm trả cho ông Lê Xuân H số tiền 10.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Xuân H đối với ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N phải trả số tiền dịch vụ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Lê Xuân H tranh chấp hợp đồng dịch vụ với Nguyễn Hữu P"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Nguyễn Hữu P có trách nhiệm trả cho ông Lê Xuân H số tiền 10.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Dân sự; Điều 141 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 220 /2018/DSST
Ngày: 16/ 4 /2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN T – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Thủy Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Hồ Thị Thu Hiền 2/ Ông Hoàng Xuân Hồng Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nông Thành Đức – Cán bộ Toà án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên. Ngày 16 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2016/TLST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2018/DS-QĐ ngày 20 tháng 3 năm 2017 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ông Lê Xuân H, sinh năm 1969 Địa chỉ: 623/15L Cách Mạng Tháng Tám, Phường M, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1969. (vắng mặt) Địa chỉ: 39/2A1 Hồ Bá Phấn, phường Q, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1976. (vắng mặt) Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1978. (vắng mặt) Địa chỉ: 41 Hồ Bá Phấn, phường Q, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quuyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1983. (vắng mặt) Địa chỉ: 49/6 Đường 19, phường HC, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Xuân H trình bày:

Tháng 3/2015, ông Nguyễn Hữu P gặp ông Lê Xuân H và Ông Nguyễn Chí T ký hợp đồng ông T và ông H đại diện cho ông Nguyễn Hữu P, ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N tham gia tố tụng tại Tòa án nhân Quận T – Thành Phố Hồ Chí Mình, trong vụ án “ Đòi tài sản “ giữa Bà Trương Thị Bích Tuyền với ông Nguyên Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S. Sau khi thỏa thuận các công việc cần làm và mức thù lao. Ngày 02/04/2015 ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S (do ông Nguyễn Hữu P đại diện) ký kết hợp dồng dịch vụ số: HCM-042015/HDDV với ông Lê Xuân H và ông Nguyễn Chí T đại diện cho ông S, ông P đến Tòa án nhân dân Quận T tham gia tố tụng để giải quyết vụ án.

Tháng 04/2015, ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S tiếp tục yêu cầu ông H và ông T làm đại diện cho ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị Thanh N ( vợ của ông Nguyễn Ngọc S ) tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trong vụ án “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam với Công ty TNHH Thương mại và Tư vấn Lê Tôn với mức thù lao là 50.000.000 đồng. Nhưng ông T đã từ chối làm đại diện cho ông ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S, và chỉ đồng ý làm việc thông qua ông H, vì vậy ông H đã đứng ra thỏa thuận công việc và mức thù lao với ông Nguyễn Hữu P (đồng thời đại diện cho ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N). Theo như thỏa thuận, giữa ông H và ông P , ôngS, bà N không ký kết hợp đồng mới mà sẽ sử dụng các điều khoản có trong hợp đồng dịch vụ số: HCM-042015/HDDV ngày 02/04/2015 để áp dụng tiếp cho công việc mới khi ông Lê Xuân H đại diện cho ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị Thanh N tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, và ông Nguyễn Hữu P, Ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị Thanh N phải có nghĩa vụ thanh toán hết cho ông Lê Xuân H toàn bộ số tiền thù lao đã thỏa thuận (50.000.000 đồng ) Ny khi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thế nhưng sau khi Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án (vào ngày 21/08/2015), ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị Thanh N đã không thực hiện đúng như những gì đã cam kết và luôn lẫn tránh không thanh toán cho tôi số tiền thù lao còn nợ là 30.000.000 đồng.

Nay ông Lê Xuân H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hữu P trả số tiền dịch vụ 10.000.000 đồng, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thi Thanh N chịu trách nhiệm liên đới trả số tiền thù lao còn nợ 20.000.000 đồng, các đương sự phải trả một lần Ny sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu P trình bày:

Ngày 02/04/2015 ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S có ký hợp đồng dịch vụ số HCM-042015/HDDV với ông Lê Xuân H và ông Nguyễn Chí T. Nội dung hợp đồng như sau: Ông Lê Xuân H và ông Nguyễn Chí T đại diện theo ủy quyền để bảo vệ quyền lợi cho ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn NgọcS trong vụ án dân sự sơ thẩm số 05/2015/TLST ngày 08/01/2015 về việc tranh chấp đòi tài sản với bà Trương Thị Bích Tuyền. số tiền phải trả cho hợp đồng này là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), Ny khi ký hợp đồng ông Nguyễn Hữu P đã ứng trước 20.000.000 đồng. Ngày 14/04/2015 Tòa án nhân dân Quận T ra quyết định số 80/2015/QĐST –DS đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, ông Lê Xuân H sau đó đòi ông Nguyễn Hữu P số tiền còn lại. Ngày 15/05/2015 ông Nguyễn Hữu P đến ngân hàng Agribank Chi nhánh Sa Huỳnh, huyện Đức Phổ, Tỉnh Quãng Ngãi chuyển qua tài khoản số 132757209 tại Ngân hàng ACB Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Lê Xuân H số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu dồng ). Ông Nguyễn Hữu P cho rằng hợp dồng dịch vụ giữa ông Nguyễn Hữu P và ông Lê Xuân H đã hoàn tất.

Tháng 06 và 07/2015 ông Nguyễn Hữu P tiếp tục nhờ ông Lê Xuân H làm đại diện ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu P và ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị Thanh N để tham gia phiên xử P thẩm tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, vụ án thụ lý số 30/2015/TLPT-KDTM, ngày 21/08/2015 với tư cách là người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan. Ông Lê Xuân H nói rằng vì chỉ tham giam phiên xét xử nên tiền ông Lê Xuân H lấy 20.000.000đ (hai mươi triệu dồng), ông Nguyễn Hữu P đồng ý và tại quán cà phê Trung Nguyên trên đường Lê Thánh Tôn, Quân 1, ông Nguyễn Hữu P đã đưa cho ông Lê Xuân H 20.000.000 đồng tiền mặt. Sau phiên xử ông Lê Xuân H gọi điện yêu cầu đòi ông Nguyễn Hữu P phải đưa thêm 30.000.000đ nữa, ông Nguyễn Hữu P không đồng ý vì giữa ông Nguyễn Hữu P và ông Lê Xuân H đã thống nhất với nhau là 20.000.000 đồng tiền công dịch vụ cho một ngày tham dự phiên tòa. Ông Nguyễn Hữu P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân H và yêu cầu Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Xuân H.

Ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:

Hợp đồng dịch vụ giữa ông Nguyễn Hữu P và ông Lê Xuân H thỏa thuận ký với nhau ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N hoàn toàn không có mặt và không biết.

Ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N không đồng ý trả số tiền 30.000.000 đồng theo đơn khởi kiện của ông Lê Xuân H.

Ông Nguyễn Chí T trình bày:

Đầu tháng 03/2015, ông Lê Xuân H, ông Nguyễn Hữu P, ông Nguyễn NgọcS hẹn gặp ông Nguyễn Chí T tại quán cà phê Trung Nguyên để bàn bạc và ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, đại diện cho ông Nguyễn Ngọc S và ông Nguyễn Hữu P tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân Quận T trong vụ án “Đòi tài sản” giữa bà Trương Thị Bích Tuyền với ông Nguyễn NgọcS và ông Nguyễn Hữu P. Nội dung tranh chấp là vay tài sản thế chấp, vì ông Nguyễn Hữu P phải đi công tác xa nên đã đề nghị ông Nguyễn Chí T và ông Lê Xuân H thực hiện công việc trước, thế nhưng ông Nguyễn Ngọc S và ông Nguyễn Hữu P không chịu ký kết và không chịu tạm ứng tiền thù lao, đến ngày 02 tháng 04 năm 2015 mới ký kết hợp đồng dịch vụ số HCM-042015/HDDV và đã thanh toán đợt một tiền thù lao 20.000.000 đồng cho ông Nguyễn Chí T và ông Lê Xuân H. Giữa tháng 4 năm 2015, ông Nguyễn Ngọc S và ông Nguyễn Hữu P nhờ ông Nguyễn Chí T và ông Lê Xuân H đại diện tham gia tố tụng phúc thẩm tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng với mức thù lao là 50.000.000 đồng. Tại thời điểm này ông Nguyễn Ngọc S và ông Nguyễn Hữu P vẫn nợ phí dịch vụ 30.000.000 đồng của hợp đồng dịch vụ số: HCM-042015/HDDV ký ngày 02/04/2015. Thế nhưng sau đó ông Nguyễn Ngọc S và ông Nguyễn Hữu P, bà Nguyễn Thị Thanh N lẫn tránh và không chịu thanh toán thù lao cho ông Lê Xuân H.

Tại phiên tòa, ông Lê Xuân H vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Ngọc S và ông Nguyễn Hữu P, bà Nguyễn Thị Thanh N không đến dự phiên tòa và không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Chí T không đến dự phiên tòa và không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T phát biểu: Tòa án đã làm thủ tục hồ sơ và thủ tục phiên tòa đúng luật định.

Phần nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Lê Xuân H, cụ thể: ông Nguyễn Hữu P phải trả cho ông Lê Xuân H số tiền 10.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Xuân H đòi ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N số tiền 20.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Hữu P vắng mặt lần hai, ông Nguyễn Chí T, ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N làm đơn xin giải quyết vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành phiên Tòa theo luật định.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào hồ sơ vụ án và lời trình bày tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn và đồng bị đơn công nhận hai bên thỏa thuận ủy quyền ông Lê Xuân H đại diện cho ông Nguyễn Hữu P tham gia tố tụng trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam và Công ty TNHH Thương mại và Tư vấn LT. Hai bên thỏa thuận bằng Giấy ủy quyền vào ngày 07/7/2015 tại Văn phòng công chứng Phong Phú, thù lao ủy quyền: Không.

Hai bên không thỏa thuận khác bằng văn bản về thù lao ủy quyền. Riêng ông Nguyễn Hữu P có thỏa thuận miệng thù lao ủy quyền và đã trả cho ông H là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), sau đó ông Nguyễn Hữu P đã hứa hẹn trả số tiền dịch vụ còn lại cho ông Lê Xuân H, nhưng ông Nguyễn Hữu P không thực hiện. Do vậy ông Lê Xuân H yêu cầu ông Nguyễn Hữu P trả số tiền dịch vụ Mười triệu đồng là có cơ sở.

Căn cứ vào hồ sơ vụ án và lời trình bày tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn và đồng bị đơn công nhận hai bên thỏa thuận ủy quyền ông Lê Xuân H đại diện cho ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N tham gia tố tụng trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam và Công ty TNHH Thương mại và Tư vấn LT. Hai bên thỏa thuận bằng Giấy ủy quyền vào ngày 11/6/2015 tại Văn phòng công chứng Phong Phú, thù lao ủy quyền: Không.

Hai bên không thỏa thuận khác bằng văn bản về thù lao ủy quyền và các thỏa thuận khác. Do vậy ông Lê Xuân H yêu cầu ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N trả số tiền dịch vụ Hai mươi triệu đồng là không có cơ sở.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Lê Xuân H đối với ông Nguyễn Hữu P, không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Xuân H đối với ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N.

Tại phiên Tòa ông Nguyễn Chí T không có văn bản yêu cầu gì khác nên Tòa án không xem xét.

Do vậy các đương sự phải chịu án phí như sau:

Ông Nguyễn Hữu P phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho ông Lê Xuân H: 10.000.000 đồng là: (10.000.000 đồng x 5% ) = 500.000 đồng.

Hòan tiền tạm ứng án phí cho ông Lê Xuân H số tiền 750.000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí AC/2014/0007272 ngày 24/02/2016 của Cục ThiSnh án Dân sự, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Lê Xuân H phải chịu án phí không chấp nhận yêu cầu đòi số tiền: 20.000.000 đồng đối với ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N là: (20.000.000 đồng x 5%) = 1.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 134, Điều 141, Điều 513, Điều 514, Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2005.

- Áp dụng Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;

- Áp dụng Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Buộc ông Nguyễn Hữu P có trách nhiệm trả cho ông Lê Xuân H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) Ny khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Xuân H đối với ông Nguyễn Ngọc S và bà Nguyễn Thị Thanh N phải trả số tiền dịch vụ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

3. Án phí dân sự ông Lê Xuân H phải chịu là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), nộp tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền khi án có hiệu lực pháp luật.

4. Án phí dân sự ông Nguyễn Hữu P phải chịu là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), nộp tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền khi án có hiệu lực pháp luật.

5. Hòan tiền tạm ứng án phí cho ông Lê Xuân H số tiền 750.000 đồng theo Biên lai tạm ứng án phí AC/2014/0007272 ngày 24/02/2016 của Cục Thi hành án Dân sự, Thành phố Hồ Chí Minh.

*Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với khoản tiền phải thi hành án nói trên, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án trên khoản tiền chưa thi hành án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ