vanban.org

Bản án 22 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c : Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, khoản 1 khoản 3 Điều 82,

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị L được ly hôn anh Nguyễn Hữu H. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Hữu H tiếp tục trông nom, chăm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lý Thị L xin ly hôn anh Nguyễn Hữu H"
  • Tòa quyết gì? Căn c : Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, khoản 1 khoản 3 Điều 82,
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 22/2023/HNG§-ST
Ngµy 25 th¸ng 4 n¨m 2023
V/v: "Tranh chấp hôn nhân và gia đình".

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Xuân Hải.

2. Ông Nguyễn Quốc Sửu.

* Thƣ ký phiên toà: Ông Phạm Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân

huyện Tân Yên.

* Đại diện VKSND huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn

Cảnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân

Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lý Thị L, sinh năm 1987(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh B.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1981(Vắng mặt)

Đều cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 01/3/2023 và lời khai trong quá trình giải

quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là Chị Lý Thị L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu H kết hôn ngày 25/2/2008, trên cơ sở tự nguyện,

đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh B. Sau khi kết hôn, Chị và anh H chung sống tại gia đình nhà chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến tháng 12/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H nghiện ma túy. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh H.

Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là

Nguyễn Hữu B, sinh ngày 10/7/2009 và Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 09/7/2014. Hiện nay 02 con chung đang ở với anh H. Ly hôn chị xin được nuôi con chung là Nguyễn Thị Bình A, còn anh H tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hữu B. Chị và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công s c đóng góp

trong thời gian ở chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên ý kiến trên.

* Tại bản tự khai ghi ngày 20/3/2023 và các lời khai tiếp theo bị đơn là

anh Nguyễn Hữu H trình bày:

Anh thừa nhận về thời gian kết hôn, quá trình sống chung như chị L trình

bày là đúng. Về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, anh H trình bày vợ chồng anh không xảy ra mâu thuẫn gì. Cách ngày 20/3/2023 khoảng 15 ngày thì chị L đột xuất bỏ về nhà ngoại và đòi ly hôn anh nhưng anh không đồng ý vì còn yêu thương chị L và anh có thể bỏ hết thói hư, tật xấu. Nếu chị L cương quyết ly hôn thì anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh H xác nhận vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn

Hữu B, sinh ngày 10/7/2009, Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 09/7/2014. Hiện nay anh đang chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con. Ly hôn anh xin được nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản , nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công s c đóng góp

trong thời gian ở chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 28/3/2023, bà Nguyễn Thị Xuyến– Trưởng

thôn Đồng Kim, xã Song Vân và bà Phạm Thị Hảo (mẹ đẻ anh H) cùng cho biết: Chị Lý Thị L, anh Nguyễn Hữu H là công dân địa phương. Chị L kết hôn với anh H năm 2008, sau khi kết hôn vợ chồng chị L, anh H về ở cùng nhau. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Thời gian gần đây phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế. Vợ chồng không quan tâm đến nhau. Đề nghị Toà án giải quyết việc ly hôn, con chung theo quy định.

Toà án đã mở phiên hoà giải để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung,

tài sản, công nợ, án phí nhưng các đương sự không thống nhất thỏa thuận được.

Tại phiên toà hôm nay, các đương sự giữ nguyên ý kiến về việc giải quyết

vụ án, không có ch ng c gì khác giao nộp cho Toà án và cũng không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.

Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo

pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Anh H không chấp hành quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83

của Luật Hôn nhân gia đình, Khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị L được ly hôn anh Nguyễn Hữu H.

2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Hữu H tiếp tục trông nom, chăm

sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Hữu B, sinh ngày 10/7/2009. Giao cho chị Lý Thị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 09/7/2014.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị L, anh H mỗi người nuôi một con và

không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

4. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản,

ruộng canh tác: Chị Lý Thị L và anh Nguyễn Hữu H không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lý Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly

hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà và căn c vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Lý Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử

vắng mặt. Anh Nguyễn Hữu H đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt. Nên Toà án xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 01 khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Ngày 07/3/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ

lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Lý Thị L là theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Lý Thị L và anh Nguyễn Hữu H xác

lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh B, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy, anh chị có thời gian chung sống hạnh phúc đến tháng 03/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn tình cảm vợ chồng và không còn tình cảm. Vợ chồng đã ly thân thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mặc dù bản thân và gia đình đã tích cực hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Vì vậy, xét mâu thuẫn giữa Chị L, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu cho chị Lý Thị L được ly hôn anh Nguyễn Hữu H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng chị L, anh H có 02 con chung là Nguyễn

Hữu B, sinh ngày 10/7/2009 và Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 09/7/2014. Khi giải quyết vụ án về ly hôn này cần xem xét đến quyền lợi của các bên đương sự nhất là quyền lợi mọi mặt của trẻ em. Xét điều kiện nuôi con thấy: Hai con hiện nay đang ở với anh H. Khi ly hôn, chị L xin được nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Thị Bình A và để anh H tiếp tục nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Hữu B. Anh H, chị L đều mong muốn nuôi con chung và có điều kiện nuôi con. Mặt khác, con chung là Nguyễn Hữu B có nguyện vọng được ở với bố, con chung là Nguyễn Thị Bình A có nguyện vọng được ở với mẹ. Nên căn c vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị L và giao cháu Nguyễn Hữu B cho anh Nguyễn Hữu H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Thị Bình A cho chị Lý Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp và đảm bảo sự ổn định, phát triển về mọi mặt của cháu Bình, cháu An.

Chị Lý Thị L và anh Nguyễn Hữu H không trực tiếp nuôi con được quyền

thăm nom con chung, không ai được cản trở chị L, anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do chị L, anh H mỗi người nuôi một con và

không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài

sản, ruộng canh tác: Chị Lý Thị L và anh Nguyễn Hữu H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lý Thị L phải chịu án phí theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn c : Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, khoản 1 khoản 3 Điều 82,

Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 01 khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị L được ly hôn anh Nguyễn Hữu H.

2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Hữu H tiếp tục trông nom, chăm

sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Hữu B, sinh ngày 10/7/2009. Giao cho chị Lý Thị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Thị Bình A, sinh ngày 09/7/2014.

Chị Lý Thị L và anh Nguyễn Hữu H được quyền thăm nom con, không ai

được cản trở Chị L, anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản,

ruộng canh tác: Chị Lý Thị L và anh Nguyễn Hữu H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Chị Lý Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm,

nhưng được trừ vào số tiền tạm ng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0004757 ngày 07/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15

ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ