vanban.org

Bản án 22

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

10, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm

2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy; khoản 2 Điều 20, Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thanh S"
  • Tòa quyết gì? 10, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm
  • Căn cứ chính? Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2026/QĐ-TA Lâm Đồng, ngày 15 tháng 4 năm 2026

Số: 21/2026/QĐ-TA Lâm Đồng, ngày 15 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Với

thành phần tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trang. 2. Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Hòa. Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 13/QĐ-MPH ngày 03 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên họp số: 04/QĐ-MPH ngày 10 tháng 4 năm 2026 đối với: Họ và tên: Nguyễn Thanh S (tên gọi khác: L); giới tính: Nam; sinh ngày 26 tháng 01 năm 2004; căn cước công dân số: X, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an, ngày cấp: 09 tháng 12 năm 2024; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn: 7/12; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án: Không; tiền sự: Không; con ông Đoàn T và bà Nguyễn Thị Ngọc Th – Vắng mặt tại phiên họp. Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hồ Ngọc Hà – Phó Trưởng Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng; 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng: Ông Nguyễn Văn Khẩn – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình ngày 15-12-2025 và Biên bản làm việc ngày 15-12- 2025, người bị đề nghị Nguyễn Thanh S khai nhận: S bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2023, khi nào có ma túy thì sẽ sử dụng, loại ma túy S sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút. Sau khi sử dụng ma túy, S cảm thấy sảng khoái, tinh thần tỉnh táo hơn. Lần cuối S sử dụng ma túy trước khi bị phát hiện là vào ngày 11-12-2025. Ngày 15-12-2025, Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng ban hành Công văn số: 948/CAX-PCTM(MT) đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy của S. Tại Phiếu trả lời kết quả ngày 15-12-2025

của Trạm y tế xã Q - Điểm trạm y tế Đ thể hiện: Nguyễn Thanh S nghiện ma túy (Methamphetamin). Ngày 11-3-2026, Trưởng Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng ban hành Công văn số: 177/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh S. Tại phiên họp, đại diện Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh S thời hạn từ 12 (mười hai) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tại Cơ sở cai nghiện số 04 tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Việc lập hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh S đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh S, thời hạn từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tại Cơ sở cai nghiện số 04 tỉnh Lâm Đồng. XÉT THẤY: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp, Thẩm phán phiên họp nhận định: [1]. Về tố tụng: [1.1]. Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị của Trưởng Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng được lập theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 8 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-3- 2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. [1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Trưởng Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh S, nơi cư trú: Thôn T, xã Q, tỉnh Lâm Đồng nên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). [1.3]. Về thời hiệu: Nguyễn Thanh S trình bày lần cuối S sử dụng ma túy đá trước khi bị phát hiện là vào ngày 11-12-2025. Ngày 27-01-2026, Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng ban hành Thông báo số: 03/TB-CAX(PCTP) về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với S. Tuy nhiên, từ ngày 31-01-2026 đến ngày 08-3-2026, S cố tình trốn tránh, cản trở việc

áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Do đó, thời hiệu được tính lại kể từ thời điểm S chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính (tức ngày 08-3-2026). Ngày 02-4-2026, Tòa án thụ lý vụ việc là còn thời hiệu theo quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). [1.4]. Người bị đề nghị Nguyễn Thanh S được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt người bị đề nghị. [2]. Về nội dung: [2.1]. Nguyễn Thanh S là người nghiện ma túy, đã nhiều lần thực hiện hành vi sử dụng trái phép ma túy đá với hình thức hút. Kết quả xét nghiệm thể hiện S có nghiện ma túy, loại ma túy Methamphetamin. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của S đã vi phạm khoản 5 Điều 5 của Luật Phòng chống ma túy năm 2021. Tại Biên bản giao nhận thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện chất ma túy ngày 20-01-2026, Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng đã hướng dẫn S liên hệ với các cơ quan chuyên môn để thực hiện các biện pháp cai nghiện ma túy nhưng S không thực hiện. Xét thấy, S là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên và không đăng ký cai nguyện ma túy tự nguyện, thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy; Điều 41 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. [2.2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị đề nghị: - Về tình tiết tăng nặng: Sau khi vi phạm, người bị đề nghị đã có hành vi trốn tránh việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. - Về tình tiết giảm nhẹ: Người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo các hành vi vi phạm của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. [2.3]. Từ những vấn đề phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thanh S để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, tạo điều kiện cho S cai nghiện hiệu quả, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. [2.4]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ các điểm d, đ khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm k khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng chống ma túy; khoản 2 Điều 20, Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 41 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; khoản 1 Điều 7, điểm b khoản 2 Điều 8, Điều 11 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC ngày 01-3-2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước: 1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số 04 tỉnh Lâm Đồng đối với Nguyễn Thanh S. 2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: - Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. - Trưởng Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng có quyền kiến nghị quyết định; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. 4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành

quyết định: Công an xã Q, tỉnh Lâm Đồng; Cơ sở cai nghiện số 04 tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng).

Cỡ chữ