vanban.org

Bản án 22

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bản án - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

01Toµ ¸n nh©n d©n
HUYỆN THANH BA
TØnh Phó thä
B¶n ¸n sè : 22/2023/HSST
Ngµy 29/5/2023
Nh©n danh
N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

Thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ : Bµ Trần Thị Lệ Thanh

C¸c héi thÈm nh©n d©n :

1. Ông Tống Như Hải;

2. Bà Nguyễn Thị Bích Hà.

Th ký toµ ¸n ghi biªn b¶n phiªn toµ: Ông Trần Đình Hòa - C¸n bé Toµ ¸n nh©n d©n huyện Thanh Ba .

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Thanh Ba tham gia phiªn toµ: Ông Nguyễn Khắc Bằng - KiÓm s¸t viªn.

Ngµy 29 th¸ng 5 n¨m 2023, t¹i Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba

- tØnh Phó Thä xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè 15/2023/HSST ngµy 25/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HS ngày 18/5/2023 đối víi các bÞ c¸o:

1. Hà Thị H - sinh ngày 10/4/1979. Giới tính: Nữ. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu D, xã T, huyện T, Phú Thọ. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: Không. Con ông: Hà Kim C – SN 1955. Con bà: Trần Thị L - SN 1958. Chồng: Hoàng Văn S - SN 1980. Con: Có 03 con, lớn SN 1998, nhỏ SN 2009. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị giam giữ, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Minh P - sinh ngày 20/11/1972. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu D, xã T, huyện T, Phú Thọ. Dân tộc: Kinh ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: Đảng viên Đ (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng). Con ông: Nguyễn Xuân S1 (đã chết). Con bà: Hoàng Thị C1 - SN 1943. Vợ: Chu Thị L1 - SN 1973. Con: Có 02 con, lớn SN 1993, nhỏ SN 1995. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị giam giữ, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.

3. Hoàng Ngọc C2 - sinh ngày 04/11/1996. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu D, xã T, huyện T, Phú Thọ. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: Không. Con ông: Hoàng Văn S2 – SN 1971.Con bà: Chu Thị H1 - SN 1973.Vợ: Hà Thị H2 - SN 2003. Con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị giam giữ, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Hà Văn T, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Trú tại: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

2. Hà Văn L2 , sinh năm 1966 (vắng mặt)

Trú tại: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Hồi 18h35 ngày 30/11/2022, tại nhà ở của Hà Minh T1 - sinh năm 1993 thuộc khu B, xã T - huyện T - tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác của Công an huyện T đã phối hợp với chính quyền địa phương xã T, kiểm tra phát hiện Hà Văn T – SN 1988, trú tại khu B, xã T (là anh trai T1) đang có hành vi theo dõi kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 gắn sim số 0977 306 536. Quá trình làm việc T trình bày bản thân có đánh bạc mua các số lô, số đề của Hà Thị H – sinh năm 1979, trú tại khu D, xã T vào các ngày 16, 17 và 18/11/2022. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ và niêm phong của T chiếc điện thoại di động nêu trên.

Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tiến hành thụ lý tin báo nguồn tin về tội phạm. Tại Cơ quan điều tra, Hà Thị H khai nhận: Do gia đình có cửa hàng bán tạp hoá thu nhập thấp và hám lợi nên từ khoảng tháng 8/2020, H nảy sinh ý định bán số lô, số đề để đánh bạc với những người có nhu cầu, mục đích lấy tiền chi dùng cá nhân. Khi bán số lô, số đề cho khách các bên thỏa thuận căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào hồi 18h15 hàng ngày sẽ đối chiếu thắng thua rồi thanh toán cho nhau. Đối với số đề lấy hai số cuối hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt làm kết quả trúng thưởng, tỷ lệ cá cược gấp 70 lần. Đối với số lô là lấy hai số cuối hàng chục và hàng đơn vị của tất cả các giải thưởng, tỷ lệ cá cược cứ 23.000đ /1 điểm lô, nếu trúng thưởng sẽ được 80.000đ. Khi bán số lô, số đề, H chiết khấu cho người mua 10% trên tổng số tiền mua số đề. Sau khi bán số lô, số đề H tự làm chủ bảng lô đề để thanh toán thắng thua với người đánh bạc mà không chuyển bảng cho ai khác. Việc đánh bạc cụ thể như sau:

1. Hà Thị H đánh bạc bán các số lô cho Hoàng Ngọc C2:

Khoảng hơn 17h00 ngày 19/8/2020, khi đang ở nhà tại khu D, xã T thì H nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0972 757 851 của Hoàng Ngọc C2 – SN 1996, trú tại khu D, xã T; đến số điện thoại của H là 0974 159 078 với nội dung C2 hỏi mua của H số lô 86 = 750 điểm, với số tiền là 17.250.000đ, H đồng ý. Số tiền này C2 chưa thanh toán cho H. Sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết Miền B, H so sánh thì thấy C2 không trúng thưởng. Vì vậy, tổng số tiền mà H và C2 đánh bạc ngày 19/08/2020 là 17.250.000đ. Đến ngày 25/9/2020, C2 đã trả cho H số tiền 5.000.000đ. Đến nay, H đã nhiều lần nhắn tin đòi nhưng C2 vẫn còn nợ H số tiền là 12.250.000đ. Trong điện thoại của H còn lưu giữ hình ảnh đòi nợ C2. Sau khi bán số lô cho C2 thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật nên H nghỉ không bán và làm chủ bảng lô đề nữa.

2. Hà Thị H đánh bạc bán các số lô, số đề cho Nguyễn Minh P:

Đến khoảng đầu tháng 11/2022, do hám lợi nên H tiếp tục ghi bán số lô, số đề: Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 09/11/2022, H nhận được tin nhắn từ số điện thoại 0972 294 626 của Nguyễn Minh P – SN 1972, trú tại khu D, xã T; đến số điện thoại nêu trên của H mua các số đề với số tiền là 150.000đ; mua các số lô với số tiền 345.000đ. Tổng tiền Phương mua số lô, đề của H là 495.000đ. H triết khấu cho P 10% tổng số tiền đề là 15.000đ. Số tiền đánh bạc này P chưa trả cho H. Sau khi có kết quả XSKT miền B, H so sánh thì thấy P không trúng thưởng. Như vậy, tổng số tiền H và P đánh bạc ngày 09/11/2022 là 495.000đ. Trong điện thoại củ H còn lưu giữ tin nhắn của P.

Vào khoảng 17 giờ ngày 14/11/2022, P một mình đến gặp H để hỏi mua một số số lô, số đề. P đưa cho H một mảnh giấy trắng có ghi các số lô, đề bằng mực màu đen. H cầm mảnh giấy này đọc thì thấy P mua các số đề với số tiền là 342.000đ. Các số lô với số tiền 4.370.000đ. Tổng số tiền Phương mua các số lô, số đề là 4.712.000đ, nhưng H triết khấu cho P 10% tổng số tiền đề là 34.000đ nên số tiền thực tế P phải trả cho H là 4.678.000đ. Số tiền này P đã thanh toán cho H. Sau khi có kết quả XSKT Miền Bắc, H so sánh thì thấy P trúng thưởng số đề 34 = 3.000đ; các số lô 67, 76, 14 mỗi số 10 điểm, số lô 21 trúng hai lần = 20 điểm; với tổng số tiền trúng thưởng là 4.210.000đ. Số tiền này H đã trả cho P. Như vậy, tổng số tiền H và P đã đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề đã tính toán thắng thua ngày 14/11/2022 là 8.922.000đ. Trong điện thoại của P còn lưu giữ hình ảnh ghi lại các số lô, số đề mua của H.

3. Hà Thị H đánh bạc bán các số lô, số đề cho Hà Văn T:

Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 16/11/2022, H nhận được tin nhắn từ tài khoản Zalo “Tâm Cá” của Hà Văn T đến tài khoản Z “Ha Hoa” của Hà Thị H với nội dung T mua các số đề với số tiền 300.000đ, Các số lô với số tiền 2.300.000đ. Tổng số tiền H bán các số lô, số đề cho T là 2.600.000đ. H triết khấu cho T 10% tổng số tiền đề = 30.000đ, số tiền thực tế T phải trả cho H khi mua các số lô, số đề là 2.570.000đ. Số tiền đánh bạc trên T chưa thanh toán cho H. Sau khi có kết quả XSKT miền B, T trúng thưởng số lô 57, 33 mỗi số 10 điểm = 1.600.000đ. Số tiền trúng thưởng trên H chưa thanh toán cho T. Như vậy tổng số tiền H và T đánh bạc ngày 16/11/2022 là 4.200.000đ.

Với hình thức đánh bạc như trên, khoảng 16 giờ 50 phút ngày 17/11/2022, H bán cho T các số đề với số tiền 200.000đ. Các số lô với số tiền 2.300.000đ. Tổng số tiền T mua các số lô, đề của H là 2.500.000đ. H triết khấu cho T 10% tổng số tiền đề là 20.000đ, vì vậy số tiền thực tế T mua các số lô, đề của H là 2.480.000đ. Số tiền đánh bạc trên T chưa thanh toán cho H. Sau khi có kết quả XSKT miền B, T trúng thưởng số lô 66 = 10 điểm, được số tiền 800.000đ. Số tiền trúng thưởng trên H chưa thanh toán cho T. Tổng số tiền H và T đánh bạc ngày 17/11/2022 là 3.300.000đ.

Ngày 18/11/2022, Hà Thị H bán cho Hà Văn T các số đề với số tiền là 300.000đ; Các số lô với số tiền 2.760. Tổng số tiền T mua các số lô, số đề của H là 3.060.000đ. H triết khấu cho T 10% tổng số tiền đề là 30.000đ. Sau khi có kết quả XSKT miền B, T trúng thưởng số lô 51 = 20 điểm được số tiền 1.600.000đ. Số tiền trúng thưởng trên H chưa thanh toán cho T. Như vậy, tổng số tiền H và T đánh bạc ngày 16/11/2022 là 4.660.000đ.

Kiểm tra điện thoại của T phát hiện có tài khoản Zalo của H; trong điện thoại của H còn lưu giữ hình ảnh H đòi nợ T số tiền đánh bạc.

Ngoài ra H không bán số lô, số đề cho ai khác.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Hoàng Ngọc C2, Nguyễn Minh P và Hà Văn T đến để điều tra xác minh. Cả 3 người nêu trên đều khai nhận phù hợp với lời khai của Hà Thị H. Các đối tượng đã tự nguyện giao nộp một số đồ vật, tài sản. Hà Thị H giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906, bên trong lắp sim số 0974 159 078 ; Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 13.678.000đ. Hoàng Ngọc C2 giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone Xs Max bên trong lắp sim số 0972 757 851; Tiền Ngân hàng N1: 12.250.000đ. Nguyễn Minh P giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020 bên trong lắp sim số 0972 294 626; Tiền Ngân hàng N1: 4.739.000đ. Hà Văn T giao nộp: Tiền Ngân hàng N1 8.160.000đ. Tiến hành kiểm tra thông tin trong những chiếc điện thoại thu giữ của H, C2, P và T phát hiện các tin nhắn, hình ảnh, số điện thoại có liên quan đến việc đánh bạc phù hợp với lời khai của các đối tượng đã trình bày. Riêng đối với Hoàng Ngọc C2 khai nhận ngày 19/8/2020, C2 mua hộ số lô cho Hoàng Duy K – SN 1995, quê quán tại khu D, xã T; hiện nay đang thường trú tại xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Cơ quan điều tra đã triệu tập K đến làm việc và tiến hành đối chất với C2, nhưng K không thừa nhận việc nhờ C2 mua hộ số lô; ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Vì vậy không đủ căn cứ xác định Hoàng Duy K đồng phạm cùng C2.

Về vật chứng của vụ án gồm: 04 chiếc điện thoại di động các loại, trong đó có chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone Xs Max là tài sản của C2, gắn sim số 0972 757 851 chỉ có chiếc sim điện thoại liên quan đến việc đánh bạc và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 gắn sim số 0977 306 536 do Tâm giao nộp là của ông Hà Văn L2 – SN 1966, ở khu B, xã T (bố đẻ T) cho T mượn sử dụng. Việc T dùng vào việc đánh bạc ông L2 không biết. Ngày 31/01/2023, CQĐT đã trả lại cho ông Hà Văn L2. Còn những chiếc điện thoại khác đều có chứa thông tin mua bán các số lô, số đề. Đối với số tiền 38.827.000đ là của các đối tượng dùng vào việc đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSTB ngày 20/4/2023 của VKSND huyện Thanh Ba đã truy tố Hà Thị H, Nguyễn Minh P, Hoàng Ngọc C2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay Hà Thị H, Nguyễn Minh P, Hoàng N đó thành khẩn khai nhận hành vi: Tại xó T, huyện T, tỉnh Phỳ Thọ, ngày 19/8/2020 H đó thực hiện hành vi đánh bạc bằng hỡnh thức bỏn số lụ với Hoàng Ngọc C2 với tổng số tiền đánh bạc là 17.250.500đ; Ngày 14/11/2022 H đó thực hiện hành vi đánh bạc bằng hỡnh thức bỏn số lụ với Nguyễn Minh P với tổng số tiền đánh bạc là 8.922.000đ nh nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có lời tranh luận, bào chữa nào khác.

Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Hà Thị H, Nguyễn Minh P, Hoàng Ngọc C2 phạm tội “ Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Thị H; Xử phạt: H -27 thỏng cải tạo khụng giam giữ. Buộc bị cỏo H phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng. Áp dụng: Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i,s khoản 1điều 51, điều 36 Bộ luật h×nh sù đối với bị cáo Hoàng Ngọc C2. Xử phạt C2 12 -15 thỏng cải tạo khụng giam giữ. Buộc bị cỏo H phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng. Miễn ỏp dụng hỡnh phạt bổ xung bằng tiền đối với bị cáo. Áp dụng Khoản 1 điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 35 BLHS đối với bị cỏo Nguyễn Minh P. Xử phạt P 20 – 25 triệu đồng. Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS:Tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 38.827.000đ của các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu bán xung quỹ nhà nước 02 điện thoại đi động thu của H và P). Trả lại cho Hoàng Ngọc C2 01 chiếc điện thoại di động nhón hiệu IPHONE Xs Max. xỏc nhận cơ quan điều tra đó trả lại 1 chiếc điện thoại di động. OPPO A15 kốm sim cho ụng Hà Văn L2 là đúng pháp luật. Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau;

L3 khai nhËn téi cña các bÞ c¸o t¹i phiªn toµ h«m nay phï hîp víi lêi khai cña các bÞ c¸o trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra, phï hîp víi lêi khai cña người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vµ vËt chøng thu ®îc cña vô ¸n. Hà Thị H, Nguyễn Minh P, Hoàng Ngọc C2 đã thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Hà Thị H đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô với Hoàng Ngọc C2 với tổng số tiền 17.250.500 đ. Ngày 14/11/2022, H đánh bạc với Nguyễn Minh P số tiền 8.922.000đ. Ngoài ra H còn mua bán số lô, số đề với Hà Văn T trong 03 ngày với số tiền đánh bạc mỗi ngày dưới 5.000.000đ (Ngày 16/11/2022 đánh bạc với số tiền 4.200.000đ; Ngày 17/11/2022 đánh bạc với số tiền 3.300.000đ; Ngày 18/11/2022 đánh bạc với số tiền 4.660.000đ;). Bản cáo trạng số 17/CT-VKSTB ngµy 20/4/2023 cña VKSND huyện Thanh Ba truy tố H, Nguyễn Minh P, Hoàng Ngọc C2 theo khoản 1 điều 321 BLHS về tội đánh bạc là đúng người, đúng tội. Đñ c¬ së kÕt luËn Hà Thị H, Nguyễn Minh P, Hoàng Ngọc C2 ph¹m téi “Đánh bạc”, téi ph¹m vµ h×nh ph¹t ®îc qui ®Þnh t¹i kho¶n 1 ®iÒu 321 Bé luËt h×nh sù.

Khoản 1 ®iÒu 321 BLHS quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...”

Lời khai của các bị cáo đều phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu được của vụ án, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa.

Hành vi, quyết định tố tụng: của cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên, Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự , thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H, P, C2 không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

XÐt tÝnh chÊt cña vô ¸n lµ ít nghiªm träng, Hành vi của bị cáo gây nguy hại không lớn cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự. Cờ bạc là căn nguyên của nhiều tệ nạn xã hội, phá hoại hạnh phúc nhiều gia đình, xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, g©y mÊt an ninh trËt tù địa phương. Do ®ã vô ¸n cÇn ph¶i ®ưîc đưa ra xÐt xö kịp thời nh»m gi¸o dôc riªng ®èi víi bÞ c¸o vµ phßng ngõa téi ph¹m nãi chung.

XÐt vÒ nh©n th©n bÞ c¸o th× thÊy :

Các bị cáo là người trưởng thành, có hiểu biết xã hội, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng ham muốn thu lời bất chính nên đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề.

Bị cáo Hà Thị H không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ là ông Hà Kim C được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần theo điểm khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Do tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, mục đích phạm tội của bị cáo là hám lời. Vì thế khi lượng hình thấy không cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà phạt bị cáo bằng hình thức cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trë thµnh ngêi l¬ng thiÖn.

Bị cáo Nguyễn Minh P không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có mẹ đẻ là bà Hoàng Thị C1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba,nên được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, mục đích phạm tội của bị cáo là hám lời. Vì thế khi lượng hình chỉ cần phạt bị cáo bằng hình thức phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trë thµnh ngêi l¬ng thiÖn.

Bị cáo Hoàng Ngọc C2 không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, mục đích phạm tội của các bị cáo là hám lời. Vì thế khi lượng hình thấy không cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà phạt bị cáo bằng hình thức cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trë thµnh ngêi l¬ng thiÖn.

. Về hình phạt bổ xung: Khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”.

Bị cáo Hà Thị H, Hoàng Ngọc C2 không có tài sản riêng, làm nghề tự do, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ xung bằng tiền.

Bị cáo Nguyễn Minh P không có tài sản riêng, làm nghề tự do, hình phạt chính là phạt tiền, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ xung.

VÒ vËt chøng cña vô ¸n:

Đối với số tiền các bị cáo H, P, C2 và Hà Văn T dùng để đánh bạc tổng là 38.827.000đ. Tại cơ quan điều tra C2 đã tự nguyện giao nộp 12.250.000đ, P giao nộp 4.739.000đ, H giao nộp 13.678.000đ, Tâm giao nộp 8.160.000đ cần tịch thu xung ngân sách nhà nước.

Đối với 02 chiếc điện thoại di động Vivo 1906, bên trong lắp sim số 0974 159 078 ( thu của H)lvà OPPO A5 2020 bên trong lắp sim số 0972 294 626 ( thu của P) là phương tiện các bị cáo dùng đánh bạc cần tịch thu bán xung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc bút bi mực màu đen bị cáo khai sử dụng để ghi số lô, số đề, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone Xs Max là tài sản của C2, gắn sim số 0972 757 851 chỉ có chiếc sim điện thoại liên quan đến việc đánh bạc. Đây là đồ vật C2 sử dụng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến việc đánh bạc và vi phạm pháp luật, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 gắn sim số 0977 306 536 do Tâm giao nộp là của ông Hà Văn L2 – SN 1966, ở khu B, xã T (bố đẻ T) cho T mượn sử dụng. Việc T dùng vào việc đánh bạc ông L2 không biết. Cơ quan điều tra đã trả cho ông L2 – chủ sở hữu, cần xác nhận là hợp pháp.

Đối với Hoàng Duy K, người T khai T mua số lô số đề hộ K. Cơ quan điều tra đã triệu tập K đến làm việc và tiến hành đối chất với C2, nhưng K không thừa nhận việc nhờ C2 mua hộ số lô; ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Vì vậy Cơ quan điều tra không xử lý đối với Hoàng Duy K là phù hợp. Đối với Hà Văn T là người tham gia đánh bạc, số tiền đánh bạc dưới dưới 5.000.000đ, T không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Văn T theo khoản 1 điều 26 Nghị định 167/NĐ-CP là phù hợp. [6] VÒ ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm: Bị cáo H, P, C2 ph¶i nép theo qui ®Þnh cña ph¸p luËt. V× c¸c lÏ trªn :

quyÕt ®Þnh

Tuyªn bè: BÞ c¸o Hà Thị H, Nguyễn Minh P, Hoàng Ngọc C2 ph¹m téi “Đánh bạc”.

Áp dụng: Kho¶n 1 ®iÒu 321; ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 ®iÒu 51, điều 36 Bé luËt h×nh sù đối với bị cáo Hà Thị H;

Áp dụng: Kho¶n 1 ®iÒu 321; ®iÓm i,s kho¶n 1, khoản 2 ®iÒu 51, điều 35 Bé luËt h×nh sù đối với bị cáo Nguyễn Minh P;

Áp dụng: Kho¶n 1 ®iÒu 321; ®iÓm i,s kho¶n 1 ®iÒu 51, điều 36 Bé luËt h×nh sù đối với bị cáo Hoàng Ngọc C2.

Xử phạt: Hà Thị H 24 (hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Hà Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thêi gian cải tạo. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung bằng tiền đối với bị cáo.

Buộc bị cáo H phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự và các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt Hoàng ngọc C2 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Hoàng Ngọc C2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thêi gian cải tạo. Gia đình bị cáo C2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung bằng tiền đối với bị cáo.

Buộc bị cáo C2 phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự và các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Minh P 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Miễn áp dụng hình phạt bổ xung.

VÒ vËt chøng: Áp dụng khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a,b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự .

- Tịch thu xung ngân sách Nhà nước số tiền 38.827.000đ Hà Thị H 13.678.000đ; Nguyễn Minh P 4.739.000đ , Hoàng Ngọc C2 12.250.000đ)

- Tịch thu bán xung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động gồm:Vivo 1906 lắp sim số 0974 159 078 ( thu của H) và OPPO A5 2020 lắp sim số 0972 294 626.

- Tịch thu để lưu trong hồ sơ 03 mảnh giấy lịch đều có ghi các chữ và số tự nhiên bằng mực màu đen.

- Tịch thu để tiêu hủy 01 bút bi mực màu đen.

- Trả lại cho Hoàng Ngọc C2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone Xs Max.

Xác nhận Cơ quan điều tra – Công an huyện T đã trả lại cho ông Hà Văn L2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 gắn sim số 0977 306 536 là hợp pháp.

(Các vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba có lưu trong hồ sơ vụ án ).

VÒ ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Hà Thị H, Nguyễn Minh P, Hoàng ngọc C3, mỗi bị cáo ph¶i chÞu 200.000® (Hai tr¨m ngh×n ®ång).

Trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n, bÞ c¸o có mặt được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản sao bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh xét xử phúc thẩm.

T/M. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm N¬i nhËn :

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

- VKS huyện, tỉnh

- Thi hµnh ¸n

- C«ng an huyện, tỉnh

- L u hå s¬

- L u ¸n v¨n

Trần Thị Lệ Thanh

- BÞ c¸o, NLQ

- UBND xã Thanh Hà.

Toµ ¸n nh©n d©n

Céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

HuyÖn thanh ba

§éc lËp - Tù do - H¹nh phóc

________________________________________________________________

tØnh phó thä

___________________________________

Thanh Ba, ngµy 29 th¸ng 5 n¨m 2023

Biªn b¶n NghÞ ¸n

Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Thanh ba, tØnh phó thä

Vµo håi giê phót, ngµy 29 th¸ng 5 n¨m 2023

T¹i phßng nghÞ ¸n, Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bà Trần Thị Lệ Thanh

C¸c héi thÈm nh©n d©n:

+ Bà Nguyễn Thị Bích Hà : Cán bộ hưu trí thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

+ Ông Tống như Hải: Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Đông Lĩnh, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Tiến hµnh nghÞ ¸n vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 ®èi víi:

1. Hà Thị Hoa - sinh ngày 10/4/1979. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu 4, xã Thanh Hà, huyện Thanh Ba, Phú Thọ

2. Nguyễn Minh Phương - sinh ngày 20/11/1972. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu 4, xã Thanh Hà, huyện Thanh Ba, Phú Thọ

3. Hoàng Ngọc Chiến - sinh ngày 04/11/1996. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Khu 4, xã Thanh Hà, huyện Thanh Ba, Phú Thọ.

C¨n cø vµo §iÒu 299 vµ §iÒu 326 cña Bé luËt tè tông h×nh sù;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tạị phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC

VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ xung. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hợp pháp.

2. VÒ téi danh: BÞ c¸o Hà Thị Hoa, Nguyễn Minh Phương, Hoàng Ngọc Chiến ph¹m téi “Đánh bạc”.

.- KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3.

3. VÒ ®iÒu luËt ¸p dông: Áp dụng: Kho¶n 1 ®iÒu 321; ®iÓm s kho¶n 1, khoản 2 ®iÒu 51, điều 36 Bé luËt h×nh sù đối với bị cáo Hà Thị Hoa;

Áp dụng: Kho¶n 1 ®iÒu 321; ®iÓm i,s kho¶n 1, khoản 2 ®iÒu 51, điều 35 Bé luËt h×nh sù đối với bị cáo Nguyễn Minh Phương;

Áp dụng: Kho¶n 1 ®iÒu 321; ®iÓm i,s kho¶n 1 ®iÒu 51, điều 36 Bé luËt h×nh sù đối với bị cáo Hoàng Ngọc Chiến.

Áp dụng khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a,b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3.

4. VÒ h×nh ph¹t:

Xử phạt: Hà Thị Hoa 24 (hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Hà Thị Hoa cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Hà, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thêi gian cải tạo. Gia đình bị cáo Hoa có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Thanh Hà trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung bằng tiền đối với bị cáo.

Buộc bị cáo Hoa phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự và các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt Hoàng ngọc Chiến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Hoàng Ngọc Chiến cho Ủy ban nhân dân xã Thanh Hà, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ để giám sát giáo dục trong thêi gian cải tạo. Gia đình bị cáo Chiến có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Thanh Hà trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung bằng tiền đối với bị cáo.

Buộc bị cáo Chiến phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự và các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Minh Phương 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Miễn áp dụng hình phạt bổ xung.

- KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3.

5. VÒ vËt chøng:

- Tịch thu xung ngân sách Nhà nước số tiền 38.827.000đ (Hà Thị Hoa 13.678.000đ; Nguyễn Minh Phương 4.739.000đ , Hoàng Ngọc Chiến 12.250.000đ)

- Tịch thu bán xung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động gồm:Vivo 1906 lắp sim số 0974 159 078 ( thu của Hoa) và OPPO A5 2020 lắp sim số 0972 294 626.

- Tịch thu để lưu trong hồ sơ 03 mảnh giấy lịch đều có ghi các chữ và số tự nhiên bằng mực màu đen.

- Tịch thu để tiêu hủy 01 bút bi mực màu đen.

- Trả lại cho Hoàng Ngọc Chiến 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone Xs Max.

Xác nhận Cơ quan điều tra – Công an huyện Thanh Ba đã trả lại cho ông Hà Văn Lương 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 gắn sim số 0977 306 536 là hợp pháp.

(Các vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Ba và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba có lưu trong hồ sơ vụ án ).

- KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3.

6. VÒ ¸n phÝ: Các bị cáo Hà Thị Hoa, Nguyễn Minh Phương, Hoàng Ngọc Chiến mỗi bị cáo ph¶i chÞu 200.000® (Hai tr¨m ngh×n ®ång).

- KÕt qu¶ biÓu quyÕt: 3/3.

ViÖc nghÞ ¸n kÕt thóc håi giê phót cïng ngµy.

Các thành viên Hội đồng xét xử

ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ

Trần Thị Lệ Thanh `

Cỡ chữ