- Tranh chấp gì? "Trần Thanh Dũng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần ThAh D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT TỈNH TN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2019 HSST Ngày: 17/7/2019 |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT, TỈNH TN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sua.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh TN xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2019/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần ThAh D, sinh năm 1976 tại tỉnh TN; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 7, ấp TH, xã ĐK, huyện CT, tỉnh TN; nơi cư trú hiện nay: Tổ 7, ấp TH, xã ĐK, huyện CT, tỉnh TN; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn B và bà Lâm Thị U; Vợ: Huỳnh Thị H; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh 2001, nhỏ nhất sinh 2004; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Bị hại: Nguyễn Long T, sinh năm 1929 (chết)
Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
1. Ah Nguyễn Long A - sinh năm 1974
2. Ah Nguyễn Long T - sinh năm 1981
Cùng địa chỉ cư trú: Tổ 11, ấp BT, xã BM, thành phố TN, tỉnh TN.
Ah Nguyễn Long T ủy quyền cho Ah Nguyễn Long A - sinh năm 1974 đại diện (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 11/02/2019, Trần ThAh D điều khiển xe mô tô biển số 70D1-213.00 lU thông trên tuyến đường QL22B hướng từ ngã tư BM về ngã ba TH, xã ĐK. Khi đi đến khu vực thuộc ấp Cầy Xiêng, xã ĐK, huyện CT, do D thiếu quA sát nên điều khiển xe gây tai nạn với xe đạp do ông Võ Long T điều khiển đAg đi cùng chiều phía trước, tai nạn xảy ra ông T được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ rẫy và đến ngày 12/02/2019 thì tử vong.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo đã nêu.
Tại bản Kết luận giám định số 226/KL-KTHS ngày 18/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh TN kết luận nồng độ cồn trong máu của ông Nguyễn Long T là 33,062mg/100ml máu.
Tại kết luận giám định pháp y về từ thi số 215/KL-KTHS ngày 25/02/1019 kết luận nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Long T do chấn thương sọ não.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKSCT ngày 31/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh TN đã truy tố Trần ThAh D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và trAh luận, giữ nguyên quA điểm truy tố bị cáo D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 xử phạt bị cáo D từ 02 năm đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời giA thử thách từ 04 đến 05 năm.
Về biện pháp tư pháp: Bị cáo đã bồi thường số tiền 51.000.000 đồng, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm; vật chứng đã trả lại cho bị cáo và đại diện bị hại nhận xong, nên không đặt ra.
Tại phiên tòa, đại diện bị hại không yêu cầu gì khác, tha thiết xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để lo cho 02 con ăn học, có cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra Công A huyện CT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 11/02/2019, bị cáo điều khiển xe mô tô mAg biển số 70D1-213.00 không có giấy phép lái xe, lU thông trên tuyến đường QL 22B đến đoạn đường thuộc ấp Cầy Xiêng, xã ĐK, huyện CT do bị cáo thiếu quA sát nên gây tai nạn với xe đạp do ông T chạy cùng chiều phía trước, tai nạn xảy ra ông T được đưa đi cấp cứu đến ngày 12/02/2019 thì tử vong.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo Trần ThAh D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến A T trật tự công cộng và gây thiệt hại đến tính mạng của ông T được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo biết việc lU thông xe là phải tuân thủ các quy định A T giao thông, do bị cáo không có giấy phép lái xe, khi điều khiển xe không quA sát phía trước cùng chiều đã điều khiển xe mô tô đụng thẳng vào xe đạp của ông T đAg diều khiển chạy cùng chiều, tai nạn xảy ra ông T đã tử vong do chấn thương sọ não, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không; tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi xảy ra tai nạn bị cáo trực tiếp phụ đưa bị hại đi cấp cứu, bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện bị hại tha thiết xin giảm nhẹ cho bị cáo, nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời giA thử thách nhất định, giao bị cáo về chính quyền địa phương quản lý giáo dục trong thời giA thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 51.000.000 đồng, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm, nên cần ghi nhận.
Đối với 01 xe mô tô biển số 70D1-213.00 của bị cáo và 01 xe đạp của bị hại, do Công A huyện CT đã trả lại cho bị cáo và đại diện bị hại nhận xong, nên không đặt ra giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần ThAh D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần ThAh D 03 (Ba) năm tù, cho hưởng án treo.
Thời giA thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần ThAh D cho Ủy bA nhân dân xã ĐK, huyện CT, tỉnh TN để giám sát và giáo dục trong thờ giA thử thách. Trường hợp bị cáo D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời giA thử thách, nếu bị cáo D cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Các biện pháp tư pháp:
Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 51.000.000 đồng, đại diện bị hại không yêu cầu gì khác.
Ghi nhận bị cáo đã nhận lại xe mô tô biển số 70D1.213.00 và đại diện bị hại đã nhận lại 01 xe đạp do Công A huyện CT đã trả lại xong.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nôi nhaän: - TAND tænh Taây Ninh; - VKSND huyeän Chaâu Thaønh; - THADS huyeän Chaâu Thaønh; - CA huyện Châu Thành; - CQ THAHS-HTTP CA Châu Thành; - Thi hành án hình sự; - PV 27; - Sở TP; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Löu HS,TA. Các Thành viên Hội đồng xét xử NGUYỄN VĂN SUA – NGUYỄN THỊ KIM LINH Nôi nhaän: - TAND tænh Taây Ninh; - VKSND huyeän Chaâu Thaønh; - THADS huyeän Chaâu Thaønh; - CA huyện Châu Thành; - CQ THAHS-HTTP CA Châu Thành; - Thi hành án hình sự; - PV 27; - Sở TP; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Löu HS,TA. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nguyễn Thị Thinh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN THỊ THINH TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nguyễn Thị Thinh |