vanban.org

Bản án 22

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt: Bị cáo Cao Minh P 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cao Minh Phụng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CT
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2019 HSST
Ngày: 18/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT, TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Lộc.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh TN xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2019/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Cao Minh P, sinh năm 1975 tại tỉnh TN; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp TA, xã TT, huyện HT, tỉnh TN; nơi cư trú hiện nay: Số 31, Tổ 13, ấp TA, xã TT, huyện HT, tỉnh TN; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Minh C (chết) và bà Trần Thị N; Vợ: Phan Thị U; Con: Có 03 người, lớn nhất sinh 1997, nhỏ nhất sinh 2009; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Võ Thanh Phong, sinh năm 1986 (chết)

Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Ông Võ Văn D, sinh năm 1956

2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1957

Địa chỉ cư trú: Tổ 9, ấp BC, xã NĐ, huyện CT

3, Cháu Võ Nguyễn Tường V, sinh năm 2013

Người đại diện hợp pháp của cháu V: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1986 (mẹ ruột cháu V); Địa chỉ: ấp BC, xã NĐ, huyện CT, tỉnh TN (vắng mặt).

Ông Võ Văn D và bà Nguyễn Thị S ủy quyền cho anh Võ Thanh H, sinh năm 1980; Địa chỉ cư trú: Tổ 9, ấp BC, xã NĐ, huyện CT đại diện, (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thanh L, sinh năm 1976; Địa chỉ cư trú: Tổ 25, ấp CL, xã CG, huyện GD, tỉnh TN, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 15/10/2018, Cao Minh P (làm thuê cho anh Lê Thanh L) điều khiển xe mô tô biển số 70C-077.22 đi từ xã TT, huyện HT về xã NĐ, huyện CT, tỉnh TN để chở đất. Khoảng 10 giờ cùng ngày, P điều khiển xe ô tô chạy trên tuyến đường 781 đi theo hướng từ xã NĐ về hướng cầu Bến Sỏi, xã Thành Long. Khi đến trước tiệm tạp hóa của chị Trần Thị Tiền thuộc ấp Nam Bến Sỏi, xã Thành Long, huyện CT thì đụng vào xe mô tô biển số 70P2-8879 do Võ Thanh Phong điều khiển chạy cùng chiều, tai nạn xảy ra anh Phong tử vong khi đang cấp cứu.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, tài sản thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1344/KL-KTHS ngày 25/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận nguyên nhân tử vong của anh Võ Thanh Phong do đa chấn thương nặng.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 09/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh TN đã truy tố Cao Minh P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo P từ

09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C, trả cho anh H đại diện bị hại nhận 01 xe mô tô biển số 70P2-8879, tại phiên tòa chủ xe ô tô tự nguyện hỗ trợ cho cháu V số tiền 20.000.000 đồng, nên cần ghi nhận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không trình bày gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 10 giờ ngày 15/10/2018, bị cáo điều khiển xe ô tô mang biển số 70C-077.22 xe chở đất chạy trên tuyến đường 781 đến đoạn đường thuộc ấp Nam Bến Sỏi, xã Thành Long, huyện CT do lách xe ô tô chạy ngược chiều, bị cáo đánh tay lái vào phía trong bên phải do tH quan sát bánh xe trước bên phải va vào xe mô tô biển số 70P2-8879 do anh Võ Thanh Phong điều khiển chạy cùng chiều với bị cáo, tai nạn xảy ra anh Phong tử vong khi đang cấp cứu.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo Cao Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn trật tự công cộng và gây thiệt hại đến tính mạng của anh Phong được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo biết việc lưu thông xe là phải tuân thủ các quy định an toàn giao thông, do bị cáo nhường đường cho xe ô tô khác chạy ngược chiều bật đèn xin đường , nên bị cáo chủ quan không quan sát phía trước cùng chiều đã điều khiển xe ô tô lách vào phía trong bên phải dẫn đến va vào xe mô tô chạy cùng chiều làm anh Phong tử vong do đa chấn thương nặng, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không; tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tai nạn xảy ra bị cáo là người thuê xe đưa bị hại đi cấp cứu, bị cáo và chủ xe đã bồi thường cho bị hại, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách nhất định, giao bị cáo về chính quyền địa phương quản lý giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường 70.000.000 đồng, do bị cáo và chủ xe ô tô bồi thường, ngoài ra không yêu cầu gì thêm, nên cần ghi nhận.

Chị Nguyễn Thị Kim L là vợ anh Phong (đã ly hôn), anh Phong có 01 người con là cháu Võ Nguyễn Tường V, do chị L nuôi dưỡng, nên chị L là người đại diện hợp pháp cho cháu V có đơn xin vắng mặt, nhưng có ý kiến yêu cầu hỗ trợ cho cháu V số tiền 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, anh L chủ xe ô tô tự nguyện hỗ trợ cho cháu V số tiền 20.000.000 đồng, xét thấy phù hợp nên ghi nhận và ghi nhận chị L đại diện cho cháu V đã nhận 20.000.000 đồng.

Anh L là chủ xe ô tô đã nhận lại xe biển số 70C-077.22 cùng các giấy tờ có liên quan, do Công an huyện CT đã trả lại xong, nên không đặt ra giải quyết.

Đối với 01 xe mô tô biển số 70P2-8879 của bị hại Phong. Qua xác minh người đứng tên chủ quyền xe khai đã bán khoảng 02 năm, bán cho ai không nhớ khi bán không làm giấy tờ gì, nên cần tuyên trả lại cho đại diện bị hại nhận là phù hợp.

Tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Cao Minh P.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 14 ngày 10/4/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CT đối với bị cáo P.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Minh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cao Minh P 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Cao Minh P cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện HT, tỉnh TN để giám sát và giáo dục trong thờ gian thử thách. Trường hợp bị cáo P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo P cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ghi nhận bị cáo và anh L là chủ xe ô tô đã bồi thường cho bị hại số tiền 70.000.000 đồng, đại diện bị hại không yêu cầu gì khác.

Ghi nhận anh L là chủ xe ô tô tự nguyện hỗ trợ cho cháu Võ Nguyễn Tường V số tiền 20.000.000 đồng, chị L là mẹ cháu V đại diện đã nhận xong.

Tuyên trả lại cho ông Võ Văn D, bà Nguyễn Thị S, cháu Võ Nguyễn Tường V (chị L đại diện cho cháu V) nhận lại 01 xe mô tô biển số 70P2-8879.

Tuyên trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Cao Minh P.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện CT, tỉnh TN đang quản lý.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 14 ngày 10/4/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CT đối với bị cáo cao Minh P.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại Trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM

Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nôi nhaän:

- TAND tænh Taây Ninh;

- VKSND huyeän Chaâu Thaønh;

- THADS huyeän Chaâu Thaønh;

- CA huyện Châu Thành;

- CQ THAHS-HTTP CA Châu Thành;

- Thi hành án hình sự;

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM

Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa Nôi nhaän:

- TAND tænh Taây Ninh;

- VKSND huyeän Chaâu Thaønh;

- THADS huyeän Chaâu Thaønh;

- CA huyện Châu Thành;

- CQ THAHS-HTTP CA Châu Thành;

- Thi hành án hình sự;

- PV 27;

- Sở TP;

- Bị cáo;

- Người tham gia tố tụng khác;

- Löu HS,TA.

Nguyễn Thị Thinh Các Thành viên Hội đồng xét xử

Cỡ chữ