- Tranh chấp gì? "C.T.Đ về tội " Vi pham quy đinh về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo C. T. Đ và sửa hình phạt Bản án sơ thẩm số: 01/2022/HS-ST, ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-PT Ngày: 21 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Nguyên Khoa;
Bà Nguyễn Thị Tư.
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Kiến Toàn – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 04 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 23/2022/HSPT, ngày 18 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo C. T. Đ do có kháng cáo của bị cáo C. T. Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2022/HS-ST, ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện L. H, tỉnh Vĩnh Long.
Bị cáo có kháng cáo:
C. T. Đ, sinh năm 1992, tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp B , xã H. T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông C. V. Đ (chết) và bà N. T. H. M; có vợ: Thạch Thị Sua Đây và 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại – có mặt.
Bị hại: T. V. S, sinh năm 1953 (chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: anh T. T. T, sinh năm 1985 – có mặt.
Nơi cư trú: ấp B, xã L. P, huyện L. H, tỉnh Vĩnh Long.
Đối với những người tham gia tố tụng khác, cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 27/5/2021, C. T. Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64G1-168.82 chở vợ là T.T. S. Đ và 02 con sinh năm 2014 vàt sinh năm 2017 đi từ ấp A, xã L. P, huyện L. H đến thị trấn L. H, huyện L. H, tỉnh Vĩnh Long.
Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, C. T. Đ điều khiển xe trên quốc lộ 53 hướng Vĩnh Long–Trà Vinh cách lề phải 02 mét với vận tốc khoảng 40–45km/h đến đoạn Km 08+500 thuộc ấp L, xã L. P, huyện L. H, tỉnh Vĩnh Long, lúc này trời đang mưa, tầm nhìn hạn chế, Điền nhìn gương chiếu hậu bên trái phát hiện phía sau có ánh đèn xe ô tô nên Đ tập trung quan sát gương chiếu hậu, không quan sát phía trước. Cùng lúc này có ông T. V. S đang đi bộ qua đường từ lề phải sang lề trái hướng xe Đ đang lưu thông. Chị S. Đ phát hiện ông S đi qua đường nên nói với Đ có người đi qua lộ, lúc này Đ quay lại nhìn về phía trước thì phát hiện phía trước có ông T. V. S đi cách xe khoảng 03 đến 04 mét. Đ điều khiển xe tránh về bên phải theo hướng xe đang lưu thông để vượt qua ông S thì tay cầm và gương chiếu hậu phía bên trái xe của Đ va chạm vào người ông S dẫn đến tại nạn. Ông S được đưa đi cấp cứu, đến ngày 28/5/2021 thì ông S tử vong.
Bản kết luận giám định pháp y số 26 ngày 07/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long kết luận: nguyên nhân tử vong của ông T. V. S là do chấn thương sọ não.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, có vạch sơn màu vàng không liền nét ở giữa mặt đường phân chia thành 02 chiều đường xe chạy. Hiện trường đo vẽ vào lề phải hướng Vĩnh Long–Trà Vinh, mặt đường rộng 11 mét, vạch kẻ màu vàng đo vào lề 5,35 mét, tâm vùng va chạm đo vào lề 1,75 mét.
Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám phương tiện và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được, xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do Châu Thanh Điền điều khiển xe thiếu chú ý quan sát dẫn đến tai nạn, vi phạm khoản 23 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ.
Trong quá trình điều tra, đại diện gia đình ông T. V. S đã nhận của C. T. Đ tổng cộng số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) bao gồm chi phí điều trị là 10.000.000đ (mười triệu đồng), chi phí mai táng là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), tiền tổn thất tinh thần là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại cho C. T. Đ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2022/HS- ST, ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo C. T. Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo C. T. Đ 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý về bồi thường thiệt hại, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 12/01/2022, bị cáo C. T. Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Tòa sơ thẩm đã xét xử; do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo đúng người đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo làm đơn kháng cáo còn trong hạn luật định.
Xét tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp cũng yêu cầu xem xét giảm nhẹ thật nhiều cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đơn kháng cáo, áp dụng khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù. Đồng thời, không chấp nhận cho bị cáo hưởng án treo, do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí.
Bị cáo trình bày: cấp sơ thẩm xét xử đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo đã biết tội nên chỉ xin cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, để bị cáo có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc hai con nhỏ.
Anh T. T. T trình bày: anh được người trong gia đình ủy quyền cho anh giải quyết vụ án, tất cả mọi người đều đồng ý là xin cấp phúc thẩm xử thật nhẹ cho bị cáo, vì bị cáo thật thà, ăn năn, hối cải và gia đình quá khó khăn.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 27/05/2021 bị cáo C. T. Đ điều khiển xe môtô biển số 64K1 – 16882 chở theo vợ và con đi theo hướng Vĩnh Long – Trà Vinh. Khi đi đến đoạn Km 08+500 – QL 53, ấp Long Thuận, xã Long Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long bị cáo không chú ý quan sát phía trước hướng đi mà chỉ xem gương chiếu hậu, nên va chạm với ông T. V. S đang đi bộ qua đường từ lề phải sang lề trái. Hậu quả: làm ông T. V. S đã tử vong. Do đó, việc cấp sơ thẩm quy kết bị cáo C. T. Đ, phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, khi điều khiển xe môtô bị cáo chỉ quan sát gương chiếu hậu, mà không quan sát phía trước hướng xe đi; trong khi đó, ông T. V. S đang đi bộ qua đường từ lề phải sang lề trái hướng xe Đ đang lưu thông qua lộ, dẫn đến gương chiếu hậu phía bên trái xe va chạm vào người ông S, làm ông S tử vong. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại không gì bù đắp được. Tình hình tai nạn giao thông hiện nay xảy ra càng ngày càng phức tạp có chiều hướng không giảm, do không chấp hành nghiêm luật giao thông, thể hiện ý thức xem thường pháp luật trong đó có bị cáo, cho nên cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo; đồng thời, còn răn đe những trường hợp tương tự có thể xảy ra, nhằm góp phần tích cực đấu tranh phòng chống tội phạm xảy ra ở địa phương.
Khi quyết định hình phạt Tòa án sơ thẩm đã có xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm anh T. T. T đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu cấp phúc thẩm chiếu cố để áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Riêng việc kháng cáo xin được hưởng án treo thì không được chấp nhận.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo là có cơ sở, nên được chấp nhận.
Về án phí: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo C. T. Đ và sửa hình phạt Bản án sơ thẩm số: 01/2022/HS-ST, ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo C. T. Đ 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC: 01; - TANDCC: 01; - VKSNDCC: 01; - VKSND TVL: 01; - VKSND HLH 01; - TAND HLH 02; - CQTHADS HLH : 01; - CQTHAHS HLH: 01; - TG, BC: 02; - P HỒ SƠ-CAVL: 01 - STP: 01; - UBND xã H: 01; - TNV+P KTNV:02; - Lưu: 04. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thành Tân |