vanban.org

Bản án 22/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai đối với Trần Minh T.

Thời gian chấp hành của Trần Minh T tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 12/3/2026). Người bị đề nghị có quyền khiếu nại qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Minh T - đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai đối với Trần Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2026/QĐ-TAĐồng Nai, ngày 10 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG NAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán:Bà Đỗ Thị Thùy Trang

2. Thư ký phiên họp:Bà Phạm Thị Thu Hằng

Ngày 10 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 16/2026/QĐ-TA ngày 03 tháng 4 năm 2026 đối với: Họ và tên: Trần Minh T Giới tính: Nam; Sinh ngày 20 tháng 4 năm 2000; CCCD số: 075200001386; Nơi cấp: Cục Quản lý hành chính về trật tự xã hội. Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 5/12; Nguyên quán: Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ C, khu phố S, phường B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Con ông Trần Văn S (1965) và bà Hoàng Thị Bích C (1974). Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Cơ quan đề nghị: Trưởng Công an phường B, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn K - Cán bộ Công an phường B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền số 114/GUQ-CA ngày 07 tháng 4 năm 2026).

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai: Ông Nguyễn Văn Báu - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

1. Tóm tắt hành vi vi phạm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

Trần Minh T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2016. Ngày 12/3/2026, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường B, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả T dương tính ma túy loại Methamphetamine.

Cùng ngày 12/3/2026, Công an phường B tiến hành mời T làm việc để xác định hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tiếp đó, Công an phường B có giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy gửi đến Trạm y tế phường B, kết quả T nghiện ma túy loại Methamphetamine.

Ngày 12/3/2026, Công an phường B đã lập biên bản về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 83/BB-VPHC đối với T, tuy đã được cơ quan chức năng thông báo về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng T không đồng ý, hành vi trên của T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và Điều 40 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, ngày 12/3/2026 Công an phường B đã ra Quyết định số 84/QĐ-CAP về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh T đồng thời có công văn số 14/ĐN-CNBB đề nghị đưa đối tượng Trần Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị:

Tại văn bản số 14/ĐN-CNBB ngày 12/3/2026 và tại phiên họp, đại diện Công an phường B, tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 24 (Hai mươi tư) tháng đối với Trần Minh T.

3. Ý kiến của người bị đề nghị:

Theo bản tường trình và tài liệu có trong hồ sơ Trần Minh T thừa nhận sử dụng ma túy từ năm 2016, loại ma túy T sử dụng là ma túy dạng đá (Methamphetamine), hình thức sử dụng là hút, một tuần sử dụng 01 lần. Lần gần nhất Trí sử dụng ma túy đá là vào ngày 12/3/2026.

Tại phiên họp, đối tượng Trần Minh T vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

4. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính kể từ khi thụ lý đến khi ra quyết định của Tòa án thực hiện đúng theo quy định tại Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về điều kiện đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện: Đối tượng Trần Minh T là người bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi cư trú đã được cơ quan có thẩm quyền xác định nghiện ma túy và không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại địa phương theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và Điều 40 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy nên Công an phường B đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp.

Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh T từ 18 (Mười tám) tháng đến 20 (Hai mươi) tháng.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét xử lý vi phạm hành chính, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đồng Nai nhận định như sau:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Trần Minh T nhưng T vắng mặt tại phiên họp (có đơn xin vắng mặt). Theo khoản 8 Điều 1 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xứ lý hành chính theo thủ tục chung.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an phường B, tỉnh Đồng Nai lập đúng thẩm quyền, đảm bảo thời hiệu áp dụng; việc lập hồ sơ, thẩm tra hồ sơ đã thực hiện đúng quy định tại Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025; điểm d, khoản 2 Điều 6; điểm a, khoản 1 Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020 của Quốc Hội; Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao và hướng dẫn tại các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 32 Luật Phòng chống ma túy.

Về nội dung đề nghị: Theo các tài liệu đã thu thập, lời khai thừa nhận của người bị đề nghị và tại Phiếu kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế phường B có đủ cơ sở kết luận Trần Minh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại địa phương. Do đó, đủ cơ sở để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh T theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Vì lẽ đó, Trưởng Công an phường B, tỉnh Đồng Nai đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi của đối tượng: Hành vi của Trần Minh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước nhưng không phải là tội phạm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần và là nguyên nhân của các tội phạm khác. Bản thân đối tượng biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi vi phạm. Do đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh T là cần thiết, tạo điều kiện cho đối tượng chữa bệnh, lao động, học tập văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với hành vi vi phạm hành chính của người bị đề nghị: Đối tượng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình làm việc với cơ quan công an người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về ý kiến của cơ quan đề nghị: Đại diện Công an phường B, tỉnh Đồng Nai đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Minh T phù hợp quy định tại Điều 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020 của Quốc Hội nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;

- Áp dụng Điều 23, 24, 32 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Điều 7; Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC quy định về xử lý một số vấn đề xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dường, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Áp dụng Điều 33; Điều 40; Điều 41; Điều 42 và Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

- Áp dụng khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95; khoản 2 Điều 104, Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 13/11/2020 của Quốc Hội;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 tỉnh Đồng Nai đối với Trần Minh T.

2. Thời gian chấp hành của Trần Minh T tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 12/3/2026).

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường B, tỉnh Đồng Nai phối hợp với Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai thi hành quyết định này theo luật định.

Cỡ chữ