- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN VĂN Q VÀ ĐỒNG PHẠM - TỔ CHỨC ĐÁNH BẠC, ĐÁNH BẠC - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần hình phạt của các bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2026/HS-PT Ngày: 09-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn.
Các Thẩm phán: 1/ Ông Phạm Viết Hùng
2/ Ông Lê Công Huân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 799/2025/HSPT ngày 01/12/2025 đối với các bị cáo Trần Văn Q, Nguyễn Văn C, Lê Kim T và Mai Thanh H, do có kháng cáo của các bị cáo trên đối với bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1.Trần Văn Q; giới tính: Nam; sinh ngày 23/3/1974, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: G H, Phường E, Quận H (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: buôn bán; con ông Trần Văn T1 (đã chết và bà Phạm Thị H1, sinh năm 1937; bị cáo có vợ tên Võ Trần Linh P, sinh năm 1983 và có 02 người con, đều sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Trần Văn Q đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/12/2025 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Nguyễn Văn C; giới tính: Nam; sinh ngày 02/3/1968 tại tỉnh Long An (nay là tỉnh Tây Ninh); nơi thường trú: 1107/60/26 P, Phường E, Quận H (nay là phường C), Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện tại: nhà không số kế số A Tổ C, Ấp A, xã Đ, huyện B (nay là xã H), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: phụ buôn bán xe; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1943 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1944. Bị cáo có vợ tên Võ Thị Kim O, sinh năm 1975 (đã ly hôn) và có 02 người con (con lớn, sinh năm 1997, con nhỏ, sinh năm 2000); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Nguyễn Văn C đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/12/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)
3. Lê Kim T; giới tính: Nam; sinh ngày 11/4/1968, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: 5 N, Phường F, Quận A (nay là phường D), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Lê Văn N, sinh năm 1938 (đã chết) và bà Lê Thị T3, sinh năm 1946; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Huỳnh N1 và chưa có con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 40/HSST ngày 21/7/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã xử phạt bị cáo 02 năm tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và đã thi hành án xong.
Bị cáo Lê Kim T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/12/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)
4. Mai Thanh H; giới tính: Nam; sinh ngày 02/9/1958, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: 1 B, Phường E, Quận H (nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công an nghỉ hưu; đảng phái: Bị cáo là đảng viên, hiện đã đình chỉ sinh hoạt đảng; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Mai Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1939 (đã chết); bị cáo có vợ Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1971 và có 04 người con (con lớn nhất, sinh năm 1987 và con nhỏ nhất, sinh năm 2004); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Mai Thanh H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/12/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)
-Ngoài ra trong vụ án nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thành Đ, Đỗ Ngọc Q2, Nguyễn Quốc K, Mai Thành T4, Trần Văn H2, Nguyễn Thị Minh U không có kháng cáo và không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử xét thấy không liên quan đến kháng cáo của các bị cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 15 phút ngày 23/8/2023, Công an P1, Quận H tuần tra đến trước số A P, Phường E, Quận H phát hiện Nguyễn Văn C đang bật màn hình điện thoại di động của C cho Nguyễn Quốc K1, Đỗ Ngọc Q2 và T5 (chưa rõ lai lịch) xem và cá độ đá gà trực tuyến thắng thua bằng tiền qua trang mạng “Xemdaga.tv” nên đưa C cùng những người có liên quan gồm: K1, Q2, Nguyễn Thành Đ, Trần Văn H2 về trụ sở Công an Q4 xác minh, làm rõ (bút lục: 43).
Tại đây, Nguyễn Văn C khai nhận: Vào khoảng gần giữa năm 2022, do muốn tham gia cá độ bóng đá, đá gà nên C hỏi Trần Văn Q (bạn của C) đưa cho C 01 tài khoản cược bóng đá đăng nhập trên website www.nhacai88.nettên tài khoản là “ibett3”, mật khẩu là “Pppp1968@@”, trong tài khoản có 5.000 USD (đô la Mỹ) tương đương 125.000.000 đồng trong tài khoản, C và Q quy ước 01 USD là 25.000 đồng. Cam dùng tài khoản trên tổ chức đánh bạc bằng hình thức: hàng ngày, C ngồi uống cà phê tại số A P, Phường E, Quận H nhận kèo cá độ bóng đá. Người chơi lựa kèo nhắn cho C, C xác nhận và bấm cá cược trong tài khoản. Kèo người chơi đánh như thế nào, C đánh theo như vậy trong tài khoản để được nhận tiền hoa hồng do hệ thống tự tính và sau khi có kết quả, người chơi tính tiền trực tiếp với C. Đến thứ hai hàng tuần, C và Q tính tiền thắng thua với nhau. Trường hợp C thắng (con bạc của C cược thắng) thì Q đưa tiền cho C, ngược lại thì C sẽ đưa tiền thua lại cho Q, C lời tiền hoa hồng. Đến khoảng giữa năm 2022, Q đưa cho C thêm 01 tài khoản khác dùng để cá độ đá gà qua mạng trên website “sv388”, tên tài khoản là “dagathai2”, mật khẩu là “Pppp1968” và trong tài khoản có sẵn 2.000 USD, tương đương 50.000.000 đồng. Hàng ngày, C vẫn ngồi tại quán cà phê tại số A P, Phường E, Quận H vừa nhận kèo cá độ bóng đá, vừa dùng điện thoại di động mở trực tiếp các trận đá gà từ Campuchia cho khách uống nước tại đây xem, đồng thời C dùng tài khoản này tổ chức cá độ đá gà cho con bạc. Đến đầu mỗi tuần, C tính tiền thắng thua với Q và nhận tiền hoa hồng tương tự như với tài khoản cá độ bóng đá nêu trên; trung bình mỗi tuần, C được hưởng lợi khoảng 1.500.000 đồng. Cam sử dụng số tài khoản 103867112640 thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần C3 (V) của con gái C là Nguyễn Thị Minh U (sinh năm 1997, ngụ tại Quận H) để giao dịch với Q và các con bạc. Mỗi lần chuyển tiền hay nhận tiền, C đều nhờ U thực hiện qua tài khoản của U. C nói là tiền làm ăn mua bán xe của C với khách nên U đồng ý. U không biết tiền C nhờ chuyển khoản hay nhận tiền qua tài khoản của U là tiền dùng để đánh bạc của C. Tiến hành đăng nhập vào tài khoản cá độ bóng đá “ibett3”, mật khẩu “Pppp1968@@” ghi nhận lịch sử cá độ bóng đá từ ngày 11/8/2023 đến ngày 22/8/2023, trong đó trận có số tiền đánh bạc cao nhất là 13.814 USD, tương đương 345.360.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính của C từ khi tổ chức cho con bạc cá độ bóng đá và đá gà qua mạng đến khi bị công an phát hiện là khoảng 14 tháng x 4 tuần/tháng x 1.500.000 đồng = 84.000.000 đồng. Các tài khoản khác sau khi bị Công an phát hiện không còn đăng nhập vào được (bút lục: 431-433).
Tiếp tục tiến hành mời Trần Văn Q khai nhận: Vào khoảng giữa năm 2022, Q thấy bạn Q tên là C2 (không rõ lai lịch) cá độ bóng đá qua mạng nên Q hỏi tham gia thì C2 giới thiệu cho Quí người tên thường gọi là “Seiko” chuyên cung cấp các tài khoản cá độ bóng đá qua mạng. C2 cho Q số điện thoại của S, Q gọi điện và được S cung cấp đường link “1gom.com” kèm theo tên tài khoản và mật khẩu cho Q đăng nhập. Q nạp tiền vào tài khoản bằng cách chuyển tiền qua ngân hàng cho S (tiền trong tài khoản được tính bằng tiền USD, quy ước 01 USD là 20.000 đồng). Khi tham gia cá cược trong tài khoản do S cung cấp, Q sẽ được hưởng thêm tiền hoa hồng do hệ thống tự tính. Ban đầu, Q tự cá cược trong tài khoản nhưng thua nhiều nên nghỉ. Hiện tại Quí không nhớ được đã tham gia cá độ bóng đá ở trận bóng đá nào trên mạng, cũng không xác định được số tiền cá cược thắng thua từng trận, Q không còn đăng nhập vào tài khoản trên.
Đến khi được Nguyễn Văn C hỏi muốn tham gia, Q nói lại với S, S tạo 01 tài khoản tên “ibett3” giao lại cho Q để Q giao lại tài khoản cho C, trong tài khoản này đã có 5.000 USD (do Q đã quen biết với S nên Q không trả tiền trước, trong tài khoản đã sẵn tiền tương đương 100.000.000 đồng). C dùng tài khoản “ibett3” nêu trên để cá cược với con bạc của C, cụ thể cá cược như thế nào thì Q không rõ. Quí quy ước với C 01 USD trong tài khoản là 25.000 đồng. Đến mỗi thứ hai đầu tuần, S sẽ báo tiền thắng, thua trong tài khoản của C cho Q. Quí báo lại C rồi Q và C thanh toán tiền thắng, thua với nhau. Nếu C cược thắng thì S chuyển tiền cho Q, Q đưa lại cho C, ngược lại C thua thì C đưa tiền cho Q, Q chuyển cho S. Do Q tính với S 01 USD là 20.000 đồng, còn với C là 25.000 đồng nên Q ăn tiền chênh lệch tương đương là 20% (nếu C thắng thì Q sẽ lỗ 5.000 đồng/1 USD, nếu C thua thì Quí lời 5.000 đồng/1 USD).
Quí sử dụng số tài khoản 19037717123011 thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần K2 (T6), số tài khoản 060220369105 thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2), 0171003455363 thuộc V1 đứng tên Quí để giao dịch với C. Đối với S, mỗi khi giao dịch, S cung cấp các số tài khoản khác nhau, sau khi giao dịch xong thì Q đều xóa tin nhắn nên Q không nhớ chính xác số tài khoản của S. Quí nhắn tin với S qua ứng dụng “WhatsApp”, mỗi khi trao đổi xong thì Q xóa tin nhắn với S. Quí liên hệ Seiko qua số điện thoại di động 0855713814379 và 085571883792. Trung bình mỗi tuần, Q được hưởng lợi khoảng 3.000.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính của Q từ khi tổ chức cho con bạc cá độ bóng đá và đá gà qua mạng là từ giữa năm 2022 đến khi bị Công an phát hiện là khoảng 14 tháng x 4 tuần/tháng x 3.000.000 đồng = 168.000.000 đồng.
Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q4 để truy xét, xác định các con bạc tham gia đánh bạc do C và Q tổ chức với số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên như sau:
1. Mai Thanh H tham gia cá cược với Cam các trận:
- Ngày 22/8/2023, trận U1 với U2, giải U3, H bắt U1 chấp 02 trái cả trận số tiền 5.000.000 đồng, H đặt Việt Nam chấp 0.75 trái hiệp 2 số tiền 3.000.000 đồng, U1 thắng U23 Phillipines 1-0 (ghi bàn hiệp một), kết quả H thua nên tổng số tiền H đánh bạc là 8.000.000 đồng.
- Ngày 22/8/2023, trận U4 với U5, giải U3, H đặt Đông Timor nằm dưới được chấp 2.25 trái cả trận số tiền 5.000.000 đồng, đặt xỉu 1.75 trái hiệp 2 số tiền 3.000.000 đồng, U4 thắng U23 Đông Timor 3-1. Trận này H thắng được 5.250.000 đồng (cụ thể thắng thế nào không nhớ) nên tổng số tiền H dùng để đánh bạc trong trận này là 13.250.000 đồng.
- Ngày 04/12/2022, trận Pháp – BaLan giải bóng đá thế giới, H đặt Pháp chấp 1.25 trái cả trận số tiền 5.000.000 đồng, P, H thắng 3.900.000 đồng nên tổng số tiền dùng để đánh bạc là 8.900.000 đồng (Bút lục: 297, 727-728).
2. Lê Kim T khai nhận tham gia cá cược với Cam: Ngày 12/10/2022, trận N3 – Ajax, giải bóng đá Vô địch các Câu lạc bộ châu Â, T đặt N3 với số tiền 6.000.000 đồng, tỷ lệ thắng là 0.95, N3 thắng Ajax 4-2, kết quả T thắng 5.700.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 11.700.000 đồng. Đối với các trận cá cược khác giữa T và Cam trước ngày 12/10/2022 thì T không còn nhớ và không có tài liệu lưu giữ. C cũng không nhớ và không có tài liệu lưu giữ (Bút lục: 380-382).
3. Nguyễn Thành Đ khai nhận: Đ và C là bạn bè. Từ khoảng năm 2022 đến ngày bị Công an phát hiện, Đ tham gia cá độ bóng đá do C tổ chức với hình thức như sau: Đ sẽ nhắn tin hoặc nói chuyện trực tiếp với C đặt kèo, C sẽ coi kèo và nhắn lại cho Đ. Đ chọn kèo và tiền cá cược báo lại cho C. Sau khi trận đấu có kết quả thì Đ và C sẽ tính tiền trực tiếp với nhau. Đ và C chỉ giao dịch tiền mặt. Vào thời điểm bị Công an P1, Quận H mời về làm việc, Đ không tham gia cá độ đá gà qua mạng. Từ trước đến nay, Đ cá cược với C khoảng 30 trận, các trận Đô chơi 500.000 đồng/1 kèo, thỉnh thoảng có trận Đô cược 1.000.000 đồng/1 kèo; mỗi trận thường cược 02 kèo, cũng có trận đánh nhiều kèo. Qua kiểm tra điện thoại không có lưu giữ các trận cá độ này. Gần đây nhất, ngày 22/8/2023, Đ cá độ 02 trận:
+ Trận đấu thứ nhất: U1 - 0 U23 Philippines, giải U3, diễn ra ngày 22/8/2023. Cá độ kèo tài xỉu 0.75 (hiệp 1, tỷ số 1-0), chọn cửa xỉu, tỷ lệ 0.90, đặt cược 1.000.000 đồng, thắng 900.000 đồng; Cá độ kèo tài xỉu 1.25 (hiệp 2), chọn cửa xỉu, tỷ lệ 1.00, đặt cược 500.000 đồng, thắng 500.000 đồng; Cá độ kèo đội Philippines, Việt Nam chấp Philippines 2 trái, chọn Philippines, tỷ lệ 0.90, đặt cược 500.000 đồng, thắng 450.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc trận này là 3.850.000 đồng.
+ Trận đấu thứ hai: U23 M - 1 U23 Đông Timor, giải U3, diễn ra ngày 22/8/2023. Cá độ kèo tài xỉu 2, chọn cửa xỉu (hiệp 2), tỷ lệ 0.82, đặt cược 500.000 đồng, thắng 410.000 đồng; Cá độ kèo tài xỉu 2.25, đặt lúc tỷ số 2-0, chọn xỉu, tỷ lệ 0.90, đặt cược 500.000 đồng, thắng 450.000 đồng; Cá độ kèo tài xỉu 3.25, đặt lúc tỷ số 1-0, chọn xỉu, tỷ lệ 0.84, đặt cược 500.000 đồng, thắng nửa tiền, tiền thắng 210.000 đồng; Cá độ kèo đội Đông Timor được chấp 2.25, tỷ lệ 0.90, đặt cược 500.000 đồng, thắng 450.000 đồng; Cá độ kèo đội Đông Timor được chấp 2.5, tỷ lệ 0.84, đặt cược 500.000 đồng, thắng 420.000 đồng; Cá độ kèo đội Đông Timor được chấp 2, tỷ lệ 0.95, đặt cược 500.000 đồng, thắng 500.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc trận này là 4.440.000 đồng (Bút lục: 90-91).
4. Đỗ Ngọc Q2 khai nhận: Q2 và C là bạn bè quen biết. Q2 tham gia cá cược bóng đá với C khoảng 30 trận, mỗi trận thường đặt 500.000 - 1.000.000 đồng. Q2 tham gia cá độ đá gà khoảng 10 trận, mỗi trận chơi 100.000 - 200.000 đồng. Q2 và C giao dịch bằng tiền mặt. Trước thời điểm bị Công an P1, Quận H kiểm tra, Q2 cá độ đá gà do C mở trực tiếp với 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) số tiền 100.000 đồng, kết quả thua 100.000 đồng. Sau khi kết thúc, người đàn ông bỏ đi đâu không rõ (Bút lục: 105).
5. Nguyễn Quốc K1 khai nhận: K1 và C là bạn bè quen biết, K1 có biết C có cá độ bóng đá, đá gà trên mạng, nhưng K1 không tham gia. Vào ngày 23/8/2023, K1 ngồi tại quán cà phê nêu trên thì thấy C mở trực tiếp trận đá gà Xanh - Đỏ nên K1 cá cược qua miệng với Nguyễn Ngọc T5 (chưa rõ lai lịch) 02 trận, một trận đặt 50.000 đồng vào gà “đỏ”, trận còn lại đặt 100.000 đồng vào gà “xanh”, kết quả thua cả 02 trận. Thời điểm Công an P1, Quận H kiểm tra, T5 đã bỏ chạy khỏi quán cà phê (Bút lục: 111).
6. Mai Thành T4 khai nhận: tham gia cá cược với C 02 trận, giải U3.
+ Trận đấu thứ nhất giữa đội tuyển U1 và U6, hiệp 1 có tỷ số 1-0. T4 đặt cược 1.000.000 đồng cho kèo Việt Nam chấp 2 trái với tỷ lệ ăn 0.90, kết quả thua cược; T4 tiếp tục đặt thêm 1.000.000 đồng cho kèo Việt Nam chấp 0.75 trái trong hiệp 2, tỷ lệ ăn 0.90, kết quả thua cược. Tổng số tiền đánh bạc trong trận đấu này là 2.000.000 đồng.
+ Trận đấu thứ hai giữa đội tuyển U4 và U5, hiệp 1 có tỷ số 2-1. T4 đặt cược 1.000.000 đồng cho kèo Đông Timor được chấp 2.25 trái, với tỷ lệ ăn 0.90, kết quả là thắng nửa tiền, T4 nhận được 450.000 đồng. T4 tiếp tục đặt cược 2.000.000 đồng cho kèo tài/xỉu 3.5 trái, tỷ lệ ăn 0.90, kết quả thua cược. Tổng số tiền đánh bạc trong trận này là 3.450.000 đồng.
*Tại cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 (nay là khu vực 10) đã truy tố các bị cáo như sau:
-Truy tố Trần Văn Q, Nguyễn Văn C, về tội “Tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
- Truy tố Mai Thanh H, Lê Kim T, về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra cáo trạng còn xác định: Đối với Nguyễn Thành Đ, Đỗ Ngọc Q2, Nguyễn Quốc K, Mai Thành T4 tuy có hành vi đánh bạc nhưng số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và nhân thân của Đ, Q2, K, T4 chưa có tiền án, tiền sự về các tội “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc” hay “Đánh bạc” nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở. Tuy nhiên, hành vi trên của Nguyễn Thành Đ, Đỗ Ngọc Q2, Nguyễn Quốc K, Mai Thành T4 đã vi phạm vào điểm a, khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Công an Q4 ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức phạt là 1.500.000 đồng/người. Tất cả chưa đóng phạt.
-Đối với Trần Văn H2 không tham gia cá độ bóng đá, đá gà qua mạng với bị cáo Nguyễn Văn C và thời điểm Công an P1, Quận H kiểm tra, H2 ngồi uống cà phê trong quán nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có cơ sở.
-Đối với Nguyễn Thị Minh U (con gái bị cáo C, chủ số tài khoản mà bị cáo C dùng để giao dịch đánh bạc) khai nhận: Do Cam lớn tuổi nên thường nhờ U sử dụng tài khoản ngân hàng của U để chuyển và nhận tiền. Uyên nghĩ đây là tiền C giao dịch mua bán xe gắn máy, không biết việc chuyển, nhận tiền này liên quan đến hành vi tổ chức cá cược ăn tiền của C, do đó Cơ quan điều tra không xử lý hình sự U về hành vi “Tổ chức đánh bạc” là có cơ sở .
-Đối với đối tượng tên C2 và S, hiện chưa xác định được lai lịch cụ thể, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào phát hiện được C2 và S sẽ xử lý sau .
-Đối với Châu Thị Bích L là chủ quán cà phê tại số A P, Phường E, Quận H không biết bị cáo C có hành vi “Tổ chức đánh bạc”. Tuy nhiên, hành vi của L đã vi phạm hành chính phạm vào điểm đ, khoản 3 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ “Chủ cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác thiếu trách nhiệm để xảy ra hoạt động đánh bạc ở cơ sở do mình quản lý” nên Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Châu Thị Bích L bằng hình thức phạt tiền, với mức phạt là 3.500.000 đồng. L chưa đóng phạt.
*Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Văn C 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù về tội “ Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền là 50.000.000 đồng
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Trần Văn Q 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền là 50.000.000 đồng
-Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Mai Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
-Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Lê Kim T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 06/10/2025, bị cáo Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo, xin được được giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 06/10/2025, bị cáo Trần Văn Q có đơn kháng cáo xin được được giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 06/10/2025, bị cáo Mai Thanh H có đơn kháng cáo xin được được giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 06/10/2025, bị cáo Lê Kim T có đơn kháng cáo xin được được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
*Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q, Mai Thanh H và Lê Kim T đã thừa nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo thực hiện như Bản án sơ thẩm đã xác định, đồng thời đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
-Bị cáo Mai Thanh H bổ sung kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do cấp sơ thẩm chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo được Chủ tịch nước tặng “Huy chương chiến sỹ vẻ vang” hạng nhất, nhì, ba và được tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng và chứng nhận huy chương vì an ninh tổ quốc.
-Bị cáo Trần Văn Q cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ có ông nội là liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi tóm tắt nội dung bản án sơ thẩm và đơn kháng cáo của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhận thấy cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật hình sự và xét xử các bị cáo Mai Thanh H và Lê Kim T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phân hóa vai trò của bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo. Tại phiên tòa, phúc thẩm bị cáo Q cung cấp tài liệu gia đình có công với cách mạng, bị cáo H cung cấp tài liệu được Chủ tịch nước tặng “Huy chương chiến sỹ vẻ vang” hạng nhất, nhì, ba và được tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng và nhiều danh hiệu khác; Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định pháp luật thể hiện tính nhân đạo. Tuy nhiên, mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện, nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q không tự bào chữa và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
- Các bị cáo Mai Thanh H và Lê Kim T không tự bào chữa và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Qua nội dung đối đáp, đại diện Viện kiểm sát và luật sư đều giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra bản án đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 29/9/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 06/10/2025, các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; cùng ngày 06/10/2025 các bị cáo Lê Kim T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo và bị cáo Mai Thanh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đơn bổ sung kháng cáo xin được hưởng án treo. Đơn kháng cáo của các bị cáo nêu trên được lập trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
Tại phiên tòa, trên cơ sở toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai về toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo và nội dung bản án sơ thẩm đã có đủ cơ sở để kết luận:
Đối với Nguyễn Văn C là người đề xuất việc tổ chức đánh bạc và trực tiếp thực hiện việc tổ chức đánh bạc với các con bạc, cụ thể: Vào khoảng gần giữa năm 2022, do muốn tổ chức cá độ bóng đá, đá gà nên Nguyễn Văn C đã đề xuất, hỏi Trần Văn Q kiếm người cung cấp cho C tài khoản cá cược bóng đá, đá gà đăng nhập trên website www.nhacai88.netwebsite “sv388”. Theo đề nghị của C, Q đã liên hệ đối tượng S để lấy tài khoản đưa cho C, để C dùng tài khoản do Q cung cấp để tổ chức đánh bạc bằng hình thức như hàng ngày, C ngồi uống cà phê tại số A P, Phường E, Quận H nhận kèo cá độ bóng đá, đá gà mà người chơi lựa kèo nhắn cho C, rồi C xác nhận và bấm cá cược trong tài khoản. Kèo người chơi đánh như thế nào, C đánh theo như vậy trong tài khoản để được nhận tiền hoa hồng do hệ thống tự tính và sau khi có kết quả, người chơi tính tiền trực tiếp thắng thua với C. Sau đó đến thứ hai hàng tuần, bị cáo cùng với Q sẽ tính tiền với nhau để chuyển cho S. Trong thời gian tổ chức đánh bạc, C thừa nhận tổng số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo kiếm được từ việc tổ chức đánh bạc là 84.000.000 đồng.
Đối với Trần Văn Q là người thông qua đối tượng C2 (không rõ lai lịch) để liên hệ đối tượng tên “S3” chuyên cung cấp các tài khoản cá độ bóng đá qua mạng. Ban đầu, Q nhận tài khoản từ S để tự cá cược cho bản thân nhưng thua nhiều nên sau đó bị cáo đã nghỉ (Quí không nhớ được đã tham gia cá độ bóng đá ở trận bóng đá nào trên mạng, cũng không xác định được số tiền cá cược thắng thua từng trận). Khi được Nguyễn Văn C hỏi và đề xuất về việc tổ chức cá độ đá banh qua mạng, thì Q đã nói lại với S và được S tạo và giao lại tài khoản tên “ibett3” trên website www.nhacai88.nettài khoản là “dagathai2” trên website “sv388”, sau khi 02 tài khoản này được S giao thì Q đã giao lại cho C để C tổ chức đánh bạc và C dùng tài khoản do Q cung cấp để cá cược với con bạc của C (cụ thể cá cược như thế nào thì Q không rõ). Quí quy ước với C 01 USD trong tài khoản là 25.000 đồng và Q tính với S 01 USD là 20.000 đồng để Quí ăn tiền chênh lệch (nếu C thắng thì Q sẽ lỗ 5.000 đồng/1 USD, nếu C thua thì Quí lời 5.000 đồng/1 USD). Trong thời gian tổ chức đánh bạc, Q thừa nhận tổng số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo kiếm được từ việc hưởng tiền chênh lệch là 168.000.000 đồng.
Mai Thanh H và Lê Kim T là các bị cáo đánh bạc với Nguyễn Văn C, các bị cáo hoàn toàn không biết việc C dùng tiền mà các bị cáo cá cược để đặt cược trên mạng, các bị cáo H và T chỉ cá cược trực tiếp với bị cáo C cũng như tiền thắng thua các bị cáo cũng trực tiếp thắng thua với bị cáo C. Bị cáo C hoàn toàn không nói cho các bị cáo biết về việc đánh bạc, thắng thua qua mạng, cụ thể Lê Kim T Tú đánh bạc 01 trận với tổng số tiền đánh bạc là 11.700.000 đồng (trong đó tiền bị cáo dùng để cá cược là 6.000.000 đồng và tiền thắng cược là 5.700.000 đồng); Mai Thanh H đánh bạc 03 trận với tổng số tiền đánh bạc từng trận lần lượt từng trận là 8.000.000 đồng, 3.250.000 đồng và 8.900.000 đồng. (trong đó tổng tiền bị cáo dùng để cá cược là 21.000.000 đồng và tiền thắng cược là 9.150.000 đồng).
Nên hành vi các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q đã cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và hành vi của các bị cáo Mai Thanh H và Lê Kim T đã cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tòa án nhân dân khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử các bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
Xét kháng cáo của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q, Mai Thanh H và Lê Kim T đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và bị cáo Mai Thanh H bổ sung yêu cầu kháng cáo của xin được hưởng án treo.
Khi lượng hình thì Tòa án nhân dân khu vực 10, thành phố Hồ Chí Minh đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo đó là: Các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, các bị cáo C, Q, H có nhân thân tốt, bị cáo Q đã tự nguyện nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo các quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về tình tiết tăng nặng các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q, Mai Thanh H bị áp dụng tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Để quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn C không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, bị cáo Trần Văn Q cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ có ông nội là liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, các bị cáo đều phạm tội lần đầu, khi chưa có tiền án, tiền sự, nên đều được tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo Nguyễn Văn C và Trần Văn Q là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo, kể cả các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo về phần hình phạt.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của các bị cáo Mai Thanh H và Lê Kim T trên cơ sở các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như cân nhắc đến nhân thân, phạm tội của các bị cáo và quy định Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (nay là Điều 2 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có hiệu lực từ ngày 10/7/2025), thì có cơ sở xem xét để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Mai Thanh H và Lê Kim T đều có tình tiết giảm nhẹ mới, như: các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Lê Kim T tuy có nhân thân bị xét xử từ năm 1994 đã được xóa án tích, lần phạm tội này được xem xét “phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình; bị cáo Mai Thanh H hiện đã 68 tuổi, phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình công tác được Chủ tịch nước tặng “Huy chương chiến sỹ vẻ vang” hạng nhất, nhì, ba và được tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng, chứng nhận huy chương vì an ninh tổ quốc là thuộc trường hợp “Người phạm tội có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác” quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; ngoài ra tính đến thời điểm này thì các bị cáo có nhân thân tốt, có cư trú rõ ràng và có tình tiết giảm nhẹ mới. Từ đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và sửa án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo Lê Kim T, Mai Thanh H được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách, là cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận một phần quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và y án sơ thẩm.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, các bị cáo Lê Kim T và Mai Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021:
1.Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần hình phạt của các bị cáo.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Kim T và Mai Thanh H và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 205/2025/HS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đối với phần hình phạt của các bị cáo.
2. Về hình phạt:
2.1/ Căn cứ điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Văn C 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù, về tội “ Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp phạt bổ sung số tiền là 50.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước.
2.2/ Căn cứ điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Trần Văn Q 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q3 phải nộp phạt bổ sung số tiền là 50.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước.
2.3/Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Mai Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Đánh bạc”, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 09/01/2026.
Giao bị cáo Mai Thanh H cho Ủy ban nhân dân phường B (cũ là Phường E, Quận H), Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú của bị cáo giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu Mai Thanh H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Mai Thanh H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
2.4/Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Lê Kim T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Đánh bạc”, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 09/01/2026.
Giao bị cáo Lê Kim T cho Ủy ban nhân dân phường D (cũ là Phường F, Quận A), Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú của bị cáo giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu Lê Kim T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Lê Kim T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
3. Về án Phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết đã quyết định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án, của Ủy ban thường vụ Q5,
Các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn Q phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng; các bị cáo Lê Kim T và Mai Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC;(1) - VKSND TP.HCM;(3) - CQ THAHS CA.TP.HCM(4) - CQCSĐT – CA.TP.HCM;(1) - VKSND Khu vực 10;(1) - TAND Khu vực 10;(1) - THADS TP.HCM(1) - Phòng THADS Khu vực 10;(1) - Bị cáo;(4) - UBND nơi bị cáo cư trú;(4) - Lưu: VT, THS, hồ sơ (30)(8) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồng Sơn |