- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tụng hình sự; Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 22/2026/HS-ST Ngày: 23/01/2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa
Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Tƣơi
2. Ông Đinh Quang Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2026 tại Toà án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025, theo quyết định đưa ra xét xử số: 07/2026/QĐXXST-HS ngày 08/01/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn M, sinh ngày: 20/12/2003; Giới tính: Nam.
Tại: Xã T, tỉnh An Giang.
Nơi ĐKTT: Ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang.
Chỗ ở trước khi bị bắt: Khu phố Ông Lang Cửa D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
Căn cước công dân: 091203005278 cấp ngày 19/6/2024.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12.
Cha: Huỳnh Văn L, sinh năm 1975, còn sống.
Mẹ: Trương Thị P, sinh năm 1976, còn sống.
Bị cáo không có anh, chị, em ruột.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ, tạm giam: 29/6/2025
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 29/6/2025, Huỳnh Văn M điều khiển xe mô tô hiệu YAMAHA, loại NOUVO 5, biển kiểm soát 68T1 – 165.68 (M thuê của bà Ninh Thị N) chạy đến phòng trọ của người đàn ông tên P1 (chưa rõ nhân thân) thuê ở khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang) mua 01 bịch ma tuý với giá 1.500.000 đồng để sử dụng. Khi mua được ma túy, M cầm trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe chạy về phòng trọ M thuê tại Bungalow TINA thuộc ấp Ô, xã C, thành phố P (nay là khu phố Ô, đặc khu P, tỉnh An Giang) để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi M điều khiển xe mô tô chạy đến đoạn đường N thuộc khu phố A, phường D thì bị Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 4 phối hợp với Công an phường D kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Ngày 08/7/2025, Huỳnh Văn M bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để điều tra.
Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài màu trắng, viền màu đỏ, kích thước 7,1 x 4,1cm, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất (đã được niêm phong);
- 01 xe mô tô Yamaha Nouvo, màu trắng xanh, biển kiểm soát 68T1-165.68, số khung RLCN1DB10DY202966, số máy C5-3703, xe đã qua sử dụng.
Kết luận giám định:
Tại Kết luận giám định số: 01/KL-KTHS ngày 03/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh A kết luận: “Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine”. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,5035 gam.
(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IC, STT 247, 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Tại bản Cáo trạng số: 44/CT-VKSKV2 ngày 23 tháng 12 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang truy tố bị cáo Huỳnh Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt Huỳnh Văn M từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về biện pháp tƣ pháp: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật sự; Điều 106 Bộ luật tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài màu trắng, viền màu đỏ, kích thước 7,1 x 4,1cm, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất (đã được niêm phong) ký hiệu vụ số 02/2025, ma tuý còn lại sau giám định là 2,3483 gam đựng trong một bịch nylon.
* Trả lại tài sản cho chủ sở hữu:
- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh A đã trả lại cho bà Ninh Thị N là chủ sở hữu 01 xe mô tô Yamaha Nouvo, màu trắng xanh, biển kiểm soát 68T1-165.68, số khung RLCN1DB10DY202966, số máy C5-3703, xe đã qua sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số: 01/KL-KTHS ngày 03/7/2025 của Phòng Kỹ thuật sự - Công an tỉnh A và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan sát điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và thừa nhận việc khởi tố, truy tố đối với bị cáo là đúng pháp luật.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, tang vật còn lại sau giám định là 2,3483 gam ma tuý loại Methamphetamin là ma tuý bị cáo mua mục đích để sử dụng.
Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, bị cáo đã tự dùng tiền của mình để mua 1.500.000 đồng ma túy của một người đàn ông tên P1, chưa rõ nhân thân để mang về sử dụng, trên đường mang về nhà thì bị bắt quả tang. Do ma tuý loại Methamphetamin nằm trong danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và tính mạng con người, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX xem xét khi lượng hình cho bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý tang vật trong vụ án như sau:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài màu trắng, viền màu đỏ, kích thước 7,1 x 4,1cm, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất (đã được niêm phong) ký hiệu vụ số 02/2025, ma tuý còn lại sau giám định là 2,3483 gam đựng trong một bịch nylon.
* Trả lại tài sản cho chủ sở hữu:
- Đối với chiếc xe Yamaha Nouvo, màu trắng xanh, biển kiểm soát 68T1- 165.68 bị cáo thuê của bà Ninh Thị N, bà N không biết M dùng để đi mua ma tuý về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh A đã trả lại cho bà Ninh Thị N, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
. Đối với thanh niên tên P1 đã bán ma tuý cho bị cáo, chưa rõ nhân thân, Công an tỉnh A tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025 (tại mục 18 Điều 1 Luật 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật hình sự); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Huỳnh Văn M: 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 29/6/2025.
2. Về biện pháp tƣ pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài màu trắng, viền màu đỏ, kích thước 7,1 x 4,1cm, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất (đã được niêm phong) ký hiệu vụ số 02/2025, ma tuý còn lại sau giám định là 2,3483 gam đựng trong một bịch nylon.
(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Phòng thi hành án Dân sự khu vực 2 – An Giang theo quyết định chuyển vật chứng số: 30/QĐ-VKSKV2 ngày 23/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 và Biên bản bàn giao ngày 07/01/2026 giữa Công an và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; -VKSND khu vực 2 – An Giang; - Phân trại tạm giam Phú Quốc; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ C.an tỉnh An Giang; - Phòng THADS khu vực 2 – An Giang; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Kim Thoa |