- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xác nhận con- cha"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K’ T đối với chị Ka B về việc “Tranh chấp xác định con cho cha”.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2026/HNGĐ- ST Ngày : 30-01-2026 “V/v tranh chấp: Xác định con cho cha” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tài
2. Bà Đỗ Thị Thương Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng xét xử sơ thẩm, công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 327/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp xác định con cho cha”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh K’ T, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số 96 đường Cao Thắng, tổ dân phố N, phường B’L, tỉnh Lâm Đồng
- Bị đơn: Chị Ka B, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn 7, xã BL2, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh K’ T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số nhà 39, thôn 13, xã Hòa B, tỉnh Lâm Đồng.
+ Cháu K’ Phúc Th (tên dự định sẽ đặt), sinh ngày 13/10/2024. Người đại diện theo pháp luật: Chị Ka B, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn 7, xã BL2, tỉnh Lâm Đồng.
Anh K’ T, chị Ka B, anh K’ T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13/10/2025 các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh K’ T trình bày:
Anh K’ T có quen biết chị Ka B từ năm 2023, có nảy sinh tình cảm và có quan hệ sinh lý. Trong thời gian này thì chị Ka B với anh K’ T2 đang là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn năm 2007. Đến ngày 06/6/2025 chị Ka B và anh K’ T2 được Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (nay là TAND khu vực 4- Lâm Đồng) xét xử cho ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng. Trong thời gian chung sống với anh K’ T2 thì chị Ka B sinh con là cháu K’ Phúc Th (tên dự kiến đặt) vào ngày 13/10/2024 tại Bệnh viện II Lâm Đồng (theo giấy chứng sinh cấp ngày 13/10/2024). Thực tế cháu K’ Phúc Th không phải là con cùng huyết thống với anh K’ T2 mà anh K’ T là cha có quan hệ huyết thống cha-con với cháu Thiện.
Đến nay giữa chị Ka B và anh K’ T2 đã ly hôn và bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Đến nay chị Ka B chưa đăng ký khai sinh cho cháu K’ Phúc Th.
Tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 24/11/2024 của Trung tâm phân tích ADN và Công nghệ di truyền CGA Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam khẳng định: Cháu K’ Phúc Th là con của anh K’ T.
Vì vậy nay anh K’ T yêu cầu Tòa án giải quyết xác nhận anh và cháu K’ Phúc Th (tên dự kiến đặt cho con) cùng quan hệ huyết thống cha- con để cha con được nhận nhau và đăng ký khai sinh cho con.
Về chi phí tố tụng (giám định ADN): Anh K’ T đồng ý chịu toàn bộ chi phí với số tiền là 7.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh K’ T yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn chị Ka B trình bày: Chị Ka B xác nhận lời trình bày của anh K’ T là đúng. Chị Ka B và anh K’ T có quan biết nhau, có quan hệ sinh lý với nhau. Tuy nhiên, thời điểm đó chị và anh K’ T2 đang là vợ chồng. Ngày 13/10/2024 tại chị sinh con tại Bệnh viện II Lâm Đồng. Bệnh viện đã cấp giấy chứng sinh, tên con dự định sẽ đặt là K’ Phúc Th. Ngày 06/6/2025 chị và anh K’ T2 đã ly hôn, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Chị Ka B khẳng định cháu K’ Phúc Th có cùng quan hệ huyết thống cha- con với anh K’ T. Về yêu cầu khởi kiện cùa anh K’ T, chị yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh K’ T2 đã được triệu tập hợp lệ để làm việc về nội dung khởi kiện của anh K’ T nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai nào.
Cháu K’ Phúc Th, người đại diện theo pháp luật là chị Ka B như đã trình bày ở trên.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 29/12/2025 nhưng không thành.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Kết thúc phần tranh luận, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cháu K’ Phúc Th (tên dự định sẽ đặt) và nguyên đơn anh K’ T có quan hệ huyết thống cha-con. Về án phí sơ thẩm đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn anh K’ T, bị đơn chị Ka B, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh K’ T2 đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Về quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn anh K’ T khởi kiện yêu cầu xác định cháu K’ Phúc Th (tên dự định sẽ đặt), sinh ngày 13/10/2024 là con của mình theo quan hệ huyết thống cha- con. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về xác định con cho cha” được quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Về nội dung vụ án:
Anh K’ T, chị Ka B thừa nhận có quen biết nhau, nảy sinh tình cảm nam nữ từ năm 2023, trong thời gian quen biết cả hai có quan hệ sinh lý, chị Ka B có thai, đến ngày 13/10/2024 sinh con tại Bệnh viện II Lâm Đồng, được cấp giấy chứng sinh, trong đó thể hiện mẹ là Ka B, dự tính đặt tên con là K’ Phúc Th.
Thời gian chị Ka B sinh con thì chị Ka B và anh K’ T2 đang là vợ chồng hợp pháp. Chị Ka B và anh K’ T2 chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn. Do cháu K’ Phúc Th sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị Ka B và anh K’ T2 nên chị Ka B không đăng ký khai sinh cho con để tên cha là anh K’ T được.
Đến ngày 06/6/2025, Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng (nay là TAND khu vực 4- Lâm Đồng) xét xử cho chị Ka B và anh K’ T2 ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng, bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Tại Phiếu kết quả phân tích DNA ngày 18/6/2025 của Công ty TNHH Apollo Biotek (Thành phố Hồ Chí Minh) thể hiện: Mẫu ADN ký hiệu K’ T và mẫu ADN ký hiệu K’ Phúc Th có quan hệ huyết thống cha- con, tần suất 99.999999999969%.
Tại kết quả xét nghiệm ADN số LĐ-111704 ngày 24/11/2025 của Trung tâm phân tích ADN và công nghệ di truyền- Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam kết luận: Cháu K’ Phúc Th là con của ông K’ T.
Mặc dù cháu K’ Phúc Th được sinh ra trong thời kì hôn nhân của chị Ka B và anh K’ T2 nhưng thực tế cháu K’ Phúc Th và anh K’ T có quan hệ huyết thống cha- con.
Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở pháp lý để xác định giữa anh K’ T và cháu K’ Phúc Th có quan hệ huyết thống là cha- con. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của anh K’ T về việc xác nhận con cho mình là có căn cứ chấp nhận.
Vì vậy Hội đồng xét xử cần căn cứ vào Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định anh K’ T và cháu K’ Phúc Th có quan hệ huyết thống cha- con.
4. Về chi phí tố tụng (giám định ADN): Anh K’ T đồng ý chịu chi phí xét nghiệm ADN với số tiền 7.000.000 đồng (đã nộp xong).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Đây là vụ án không có giá ngạch, buộc anh K’ T phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 235, Điều 264, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K’ T đối với chị Ka B về việc “Tranh chấp xác định con cho cha”.
Xác định anh K’ T và cháu K’ Phúc Th (tên dự định sẽ đặt), sinh ngày 13/10/2024 có quan hệ huyết thống cha- con.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc anh K’ T phải chịu chi phí xét nghiệm ADN số tiền 7.000.000 đồng (đã nộp xong).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh K’ T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh K’ T đã nộp tại biên lai nộp tiền số 0005732 ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 4- Lâm Đồng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Phòng THADS khu vực 4- Lâm Đồng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Bích Thủy |