vanban.org

Bản án 22/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vàng Thị S và anh Hờ A C.

Về nuôi con chung: Giao cả 04 con chung là Hờ A H, sinh ngày 20/7/2010, Hờ Thị Đ, sinh ngày 06/11/2012, Hờ Thị Y, sinh ngày 04/7/2014 và Hờ Thị D, sinh ngày 09/4/2020 cho chị Vàng Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Về nghĩa vụ cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vàng Thị S - Hờ A C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vàng Thị S và anh Hờ A C.
  • Căn cứ chính? Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 25-8-2026
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Tao Thị Hường

2. Ông Thùng Văn Quân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Giàng A Khở - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 94/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2026 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2026/QĐXX-ST ngày 10 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vàng Thị S, sinh ngày 01/01/1997; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 17/12/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Địa chỉ: Bản H (nay là bản N), xã Q, tỉnh Điện Biên (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Hờ A C, sinh ngày 01/01/1987; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 17/12/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Địa chỉ: Bản H (nay là bản N), xã Q, tỉnh Điện Biên (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 6 năm 2026 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vàng Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị S và anh Hờ A C do không hiểu biết pháp luật nên đã tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2009 mà không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Anh chị chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, được gia đình hai bên chứng kiến. Trong quá trình chung sống từ năm 2009 đến năm 2014, chị S và anh C sống hòa thuận, không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, từ năm 2014 trở đi, chị S và anh C bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh C thay đổi tính nết, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình và nghiện chất ma túy. Ngày 04/9/2025 anh Hờ A C bị Công an xã Q bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, sau đó bị Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên, tỉnh Điên Biên xử phạt 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 28/2026/HS-ST, ngày 20/02/2026. Hiện nay, anh Hờ A C đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Tân Lập, Cục C10, Bộ Công an, không thể quan tâm, chăm sóc gia đình, vợ con. Đến nay, xét thấy mâu thuẫn gia đình trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị S không còn tình cảm với anh C nên chị S đề nghị Tòa án không công nhân quan hệ vợ chồng giữa chị S và anh C.

Về nuôi con chung: Chị S và anh C trong thời gian chung sống có 04 con chung đều chưa thành niên là Hờ A H, sinh ngày 20/7/2010; Hờ Thị Đ, sinh ngày 06/11/2012; Hờ Thị Y, sinh ngày 04/7/2014 và Hờ Thị D, sinh ngày 09/4/2020. Chị S có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 04 con chung Hờ A H, Hờ Thị Đ, Hờ Thị Y và Hờ Thị D cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn trình bày nguyện vọng của 03 con chung là Hờ A H, sinh ngày 20/7/2010; Hờ Thị Đ, sinh ngày 06/11/2012; Hờ Thị Y, sinh ngày 04/7/2014, đều có nguyện vọng sống cùng với mẹ là chị Vàng Thị S.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của bị đơn anh Hờ A C ngày 10 tháng 7 năm 2026 tại Trại giam Tân Lập, của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên, anh Hờ A C khai:

Về quan hệ hôn nhân: Anh C thống nhất với lời trình bày của chị S về quan hệ hôn nhân, thời gian anh chị chung sống như vợ chồng. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn giữa anh C và chị S là do anh C nghiện chất ma túy, bị Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên xử phạt 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hiện nay anh C đang phải đi chấp hành hình phạt tại Trại giam Tân Lập, Cục C10, Bộ Công an. Nay chị S yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị S và anh C, anh C cũng nhất trí với yêu cầu của chị S.

Về nuôi con chung: Anh C và chị S trong thời gian chung sống có 04 con chung đều chưa thành niên là Hờ A H, sinh ngày 20/7/2010; Hờ Thị Đ, sinh ngày 06/11/2012; Hờ Thị Y, sinh ngày 04/7/2014 và Hờ Thị D, sinh ngày 09/4/2020. Anh C nhất trí với nguyện vọng của chị S là giao cả 04 con chung cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 7 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vàng Thị S và anh Hờ A C. Đề nghị giao cả 04 con chung là Hờ A H, sinh ngày 20/7/2010; Hờ Thị Đ, sinh ngày 06/11/2012; Hờ Thị Y, sinh ngày 04/7/2014 và Hờ Thị D, sinh ngày 09/4/2020 cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung, chị S và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập. Đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Vàng Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết nuôi con chung giữa chị Vàng Thị S và anh Hờ A C. Do chị S và anh C không đăng ký kết hôn nên đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vơ chồng mà không đăng ký kết hôn, theo quy định tại khoản 1, khoản 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 7 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do bị đơn anh Hờ A C hiện đang cư trú tại bản H (nay là bản N), xã Q, tỉnh Điện Biên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên.

Về tố tụng: Do anh Hờ A C đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Tân Lập, chị S có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án không hòa giải được theo khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C gồm: Các thông báo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn là chị Vàng Thị S và bị đơn là anh Hờ A C được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và thủ tục xét xử vắng mặt tất các các đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh C đều thừa nhận do không hiểu biết pháp luật nên đã tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2009, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Lời khai của chị S và anh C phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Điện Biên ngày 28/7/2026 tại Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Điện Biên về việc chị S và anh C chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, tuy có đầy đủ điều kiện kết hôn nhưng anh, chị không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình "Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…", do đó quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh C không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Chị S và anh C cũng đều thừa nhận nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn gia đình là do anh C nghiện ma túy, hiện đang phải chấp hành hình phạt 03 năm 02 tháng tù, kể từ ngày 04/9/2025 tại Trại giam Tân Lập. Hiện tại tình cảm giữa chị S và anh C không còn, không ai quan tâm đến ai, gia đình không hạnh phúc nên chị S yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh C. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình "Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này…" và hướng dẫn tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016-TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị S và anh C.

Về nuôi con chung: Chị S và anh C có 04 con chung chưa thành niên là Hờ A H, sinh ngày 20/7/2010, Hờ Thị Đ, sinh ngày 06/11/2012, Hờ Thị Y, sinh ngày 04/7/2014 và Hờ Thị D, sinh ngày 09/4/2020. Kể từ khi anh C đi chấp hành hình phạt tù, chị S là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Chị S có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 04 con chung và các cháu Hờ A H, Hờ Thị Đ và Hờ Thị Y đã trên 07 tuổi và đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Theo biên bản xác minh ngày 28/7/2026 tại Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Điện Biên thì chị S có nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, ngoài ra chị còn đi làm thuê, có thu nhập đủ để đảm bảo nuôi dưỡng cả 04 con chung chưa thành niên. Anh C cũng nhất trí với nguyện vọng của chị S là giao cả 04 con chung cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao đông, do anh C đang phải chấp hành hình phạt tù, không đủ điều kiện để nuôi 04 con chung. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cả 04 con chung chưa thành niên cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động là phù hợp với quyền lợi về mọi mặt của con. Về cấp dưỡng nuôi con chung, Sa và anh C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Do nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Vàng Thị S có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm vì chị S là đồng bào dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã Q, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Về quan điểm giải quyết của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Điện Biên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1, khoản 7 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

- Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Vàng Thị S và anh Hờ A C.

2. Về nuôi con chung: Giao cả 04 con chung là Hờ A H, sinh ngày 20/7/2010, Hờ Thị Đ, sinh ngày 06/11/2012, Hờ Thị Y, sinh ngày 04/7/2014 và Hờ Thị D, sinh ngày 09/4/2020 cho chị Vàng Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên và có khả năng lao động.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị S và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị S và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Vàng Thị S được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là đồng bào dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã Q, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ