- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng D về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Thế C.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – GIA LAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27/02/2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Trần Thị Hòa.
+ Bà Huỳnh Thị Tuyết Mai.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng D - sinh ngày: 01/6/1996; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã N, tỉnh Gia Lai; Địa chỉ liên lạc: Thôn K, xã X, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế C - sinh ngày: 28/4/1991; số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ thường trú: Thôn C, xã N, tỉnh Gia Lai.
(Chị D vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng D trình bày:
Chị với anh Nguyễn Thế C tìm hiểu, tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (cũ) vào ngày 25/6/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hôn nhân, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Vợ chồng chị hiện nay ai cũng đã có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến ai. Chị nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn nghiêm trọng, vợ chồng sống không hạnh phúc nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, vợ chồng sống ly thân đã lâu nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
Chị với anh Nguyễn Thế C có 02 người con chung tên là Nguyễn Thế Hoàng P, sinh ngày 13/11/2015 và Nguyễn Thế Hoàng K, sinh ngày 03/10/2020. Hiện các cháu đang ở với chị nên khi ly hôn chị xin nhận nuôi 02 con. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu giải quyết mà để vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Thế C vắng mặt.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Gia Lai tại phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của chị D kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn anh Nguyễn Thế C vắng mặt nên chưa chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị D được ly hôn anh C, giao con chung là cháu Nguyễn Thế Hoàng P, sinh ngày 13/11/2015 và Nguyễn Thế Hoàng K, sinh ngày 03/10/2020 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung các đương sự không tranh chấp nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Hồng D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thế C. Đây là tranh chấp về Hôn nhân – Gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Gia Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự nên yêu cầu khởi kiện của chị D được Tòa án chấp nhận.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng D có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn anh Nguyễn Thế C mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt bị đơn.
. Về nội dung tranh chấp:
. Chị Nguyễn Thị Hồng D với anh Nguyễn Thế C tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (cũ) vào ngày 25/6/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa chị D với anh C được pháp luật thừa nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
. Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng D trình bày:
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hôn nhân, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Vợ chồng chị hiện nay ai cũng đã có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến ai. Chị nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn nghiêm trọng, vợ chồng sống không hạnh phúc nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, vợ chồng sống ly thân đã lâu nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng D, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đã là vợ chồng, lẽ ra chị Nguyễn Thị Hồng D với anh Nguyễn Thế C phải có nghĩa vụ quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, phải cùng có trách nhiệm với nhau trong cuộc sống hôn nhân. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, anh C không chăm lo cho gia đình. Từ năm 2022 vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai nhưng các bên không thể hàn gắn tình cảm để chung sống hạnh phúc nên chị D yêu cầu giải quyết ly hôn anh C. Đối với bị đơn anh Nguyễn Thế C nhiều lần Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án nhưng anh C đều vắng mặt. Anh C hiện nay đăng ký thường trú và cư trú sinh sống tại thôn C, xã N, tỉnh Gia Lai. Việc anh C không chấp hành sự triệu tập của Tòa án nên phải chịu hậu quả pháp lý từ việc không chấp hành sự triệu tập. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định quan hệ hôn nhân giữa chị D với anh C đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị D yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thế C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình – 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.
. Về con chung:
Chị Nguyễn Thị Hồng D với anh Nguyễn Thế C có 02 người con chung tên là Nguyễn Thế Hoàng P, sinh ngày 13/11/2015 và Nguyễn Thế Hoàng K, sinh ngày 03/10/2020. Hiện tại sức khỏe cháu P, cháu K phát triển bình thường và đang ở với chị D. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì khi ly hôn chị D xin nhận nuôi cháu P, cháu K. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét yêu cầu giải quyết quan hệ con chung của chị D, Hội đồng xét xử thấy rằng: việc giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng phải xuất phát từ việc xem xét hoàn cảnh và điều kiện thực tế của người được trực tiếp nuôi con phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con để con được phát triển bình thường. Cháu P, cháu K hiện tại đang ở với chị D, tại biên bản ghi lời khai cháu P vào ngày 26/12/2025 nguyện vọng của cháu muốn ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Thế Hoàng P, sinh ngày 13/11/2015 và Nguyễn Thế Hoàng K, sinh ngày 03/10/2020 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Về án phí DSST: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, chị Nguyễn Thị Hồng D phải chịu án phí ly hôn.
. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh Gia Lai tại phiên tòa là phù hợp, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng D về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Thế C.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng D được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
1.2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hồng D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thế Hoàng P, sinh ngày 13/11/2015 và Nguyễn Thế Hoàng K, sinh ngày 03/10/2020. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Án phí ly hôn: Chị Nguyễn Thị Hồng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, chị D đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0007131 ngày 26/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai, nay được khấu trừ.
3. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt, thời hạn trên được tính kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Gia Lai; - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; - UBND xã Ngô Mây, tỉnh Gia Lai; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Minh |