vanban.org

Bản án 22/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ngô Văn N phạm tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟‟

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho hai bị cáo. TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "chu van tam pham toi mua ban trai phep chat ma tuy, ngo van nhut pham toi tang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội mua bán trái phép chất m…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ngô Văn N phạm tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟‟
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------
Bản án số: 22/2025/HSST
Ngày 31/7/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu H.

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị P bà Phan Thị N

Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Lan P- Thư ký TAND nhân dân khu vực - B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực - B tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ D, Kiểm sát viên.

Ngày 31/7/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực - B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/HSST ngày 09/7/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/QĐXXST-HS ngày 16/7/2025 đối với các bị cáo:

1. Chu Văn T, sinh năm 1988, tại thị xã V, tỉnh B; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh B (nay là phường T, tỉnh B); Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Văn V, sinh năm 1963 và bà Dương Thị T, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Vũ Thị T, sinh năm 1988; (đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

2. Ngô Văn N, sinh năm 1999, tại huyện Th, thành phố C; Nơi ĐKHKTT: khu phố V, phường C, khu vực - B (nay là phường B, tỉnh B) Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Ngô Quang H, sinh năm 1971 và bà Ngô Thị B, sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bào chữa cho bị cáo Chu Văn T: Bà Nguyễn Thị T- Trợ giúp viên Trung tâm tự giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; Địa chỉ: Số đường P, phường S, tỉnh B; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào tối ngày 09/4/2025, tại khu vực bãi rác thuộc phường P, tỉnh Bắc Ninh, T đi bộ một mình tìm mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng (ma túy ngựa) và các hạt tinh thể màu trắng (ma túy đá) với giá 100.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, T mang về phòng trọ của mình ở khu phố G, phường P lấy một phần ma tuý đá ra sử dụng. Đến tối ngày 11/4/2025, Tâm cất số ma túy đá và 02 viên ma túy ngựa còn lại vào 01 vỏ bao thuốc lá S màu bạc, rồi đi bộ ra khu vực phường P (nay là phường P), mục đích để bán. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ ở trước cửa nhà nghỉ H thì có 01 nam thanh niên không quen biết đi đến (sau này bị bắt, T thấy nam thanh niên khai nhận là Ngô Văn N, sinh năm 1999, HKTT: Khu phố V phường B, tỉnh B). N hỏi mua của Tâm 100.000 đồng ma túy đá, ngựa để sử dụng. T đồng ý, N liền đưa cho Tâm 02 tờ tiền polyme, mỗi tờ mệnh giá 50.000 đồng. T cầm tiền đút vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc và đưa lại cho N 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn đựng ma túy đã mua được trước đó. Khi N cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải thì lúc này lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Ngày 12/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Văn Ttại khu phố G, phường P, tỉnh B. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận giám định số: 882/KL-KTHS ngày 14/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:

“+ 02 (hai) viên nén màu hồng bên trong 01 (một) túi nilong màu trắng (đựng trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc) có khối lượng 0,1947 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine."

+ Các hạt tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilong màu trắng (đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc) có khối lượng là 0,1436 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số: 07/CT-VKQV ngày 09/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực - B truy tố bị cáo Chu Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Ngô Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Chu Văn T và Ngô Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực - Bđã truy tố và thừa nhận Bản cáo trạng truy tố Chu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và truy tố Ngô Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực - B thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Chu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Ngô Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Chu Văn T từ 30 đến 33 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/4/2025.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Ngô Văn N từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/4/2025.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 100.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo Ngô Văn N phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật. Bị cáo Chu Văn Tthuộc hộ cận nghèo, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo Chu Văn T.

Người bào chữa cho bị cáo Chu Văn T khẳng định Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh truy tố bị cáo Tvề tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bà T đồng tình với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bà T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo, bị cáo là người dân tộc có trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế nên xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất và miễn án phí HSST cho bị cáo T.

Các bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên. Các bị cáo chỉ xin hưởng mức hình phạt thấp nhất.

{{

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Chu Văn T, Ngô Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết quả giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ 30 phút ngày 11/4/2025, tại trước cửa nhà nghỉ H thuộc khu phố M P, thị xã Q, tỉnh B (nay là phường P, tỉnh B), tổ công tác Công an phường P thị xã Q (nay là Công an phường P) kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Chu Văn T có hành vi bán trái phép 0,3383 gam ma túy Methamphetamine cho Ngô Văn N với giá 100.000 đồng. Như vậy, bị cáo T phải chịu trách nhiệm về hành bán trái phép chất ma túy; bị cáo N phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,3383 gam ma túy Methamphetamine. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh truy tố và đề nghị xét xử bị cáo Chu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Ngô Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này các bị cáo nhận thức, thấy được tác hại của ma tuý nhưng vì mục đích hám lợi nên các bị cáo đã bất chất pháp luật bán một lượng chất ma túy để kiếm lợi nhuận. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, coi thường pháp luật. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm độc lập. Do vậy vụ án không có tính đồng phạm. Các bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong phạm vi hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo N có hành vi tàng trữ 0,3383 gam ma túy Methamphetamine. Bị cáo T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy ma túy Methamphetamine để bán. Do vậy, hành vi của bị cáo T và bị cáo N là độc lập với nhau. Nhứt phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 0,3383 gam ma túy Methamphetamine.

Về nguồn gốc số ma túy đã giao nộp tại Cơ quan điều tra theo T khai nhận là mua của một người đàn ông (không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể) tại khu vực bãi rác khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh B (nay là phường P, tỉnh B). Tuy nhiên, Tâm không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Bị cáo T, N đều có nhân thân tốt. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được hưởng quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội và cũng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là “Phạt tiền” đối với các bị cáo nhưng xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 100.000 đồng là tiền N đưa cho T để trả tiền mua ma túy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Liên quan trong vụ án có người đàn ông không quen biết đã bán ma túy cho Tâm tại khu vực bãi rác khu phố G, phường P, tỉnh B. Quá trình điều tra Tâm không biết địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo Ngô Văn N phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Bị cáo Chu Văn T thuộc hộ cận nghèo, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo Chu Văn Tâm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ngô Văn N phạm tội „Tàng trữ trái phép chất ma túy‟‟

2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Xử phạt bị cáo Chu Văn T 30 (Ba mươi tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/4/2025. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Xử phạt bị cáo Ngô Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/4/2025. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho hai bị cáo.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Theo đúng biên bản giao vật chứng số 10, ngày 16/7/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B và Phòng thi hành án dân sự khu vực - B).

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326 đối với bị cáo T): Buộc bị cáo Ngô Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chu Văn T.

5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ