vanban.org

Bản án 22/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 36 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HSST
Ngày 08 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thu Thủy

2. Ông Tường Duy Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST - HS ngày 25 tháng 8 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo.

Họ và tên: Nguyễn Hữu C tên gọi khác: Không; sinh năm 1972; Tại Phường T, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: T40, Phường T, thị xã M, tỉnh Sơn La. Nay là T40, Phường T, tỉnh Sơn La: Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Đảng phái đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Hữu T và bà Đỗ Thị H (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Hoàng Thị A (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 1996.

Tiền án; Tiền sự: Không: Nhân thân: - Tại bản án số 06/1998/HSST ngày 13/02/1998 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 tháng tù, cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản của công dân, thử thách là 18 tháng.

- Tại bản án số 78/1999/HSST ngày 28/12/1999 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chât ma túy.

- Tại bản án số 138/2003/HSST ngày 14/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Ch 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tại bản án số 35/2003/HSST ngày 31/12/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, sửa một phần bản án số 138 ngày 14/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách là 18 tháng.

- Tại bản án số 35/2003/HSPT ngày 31/12/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, cho hưởng án treo, thử thách là 18 tháng.

- Tại bản án số 02/2008/HSPT ngày 07/10/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 30 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. (Các bản án trên đã được xóa án tích).

- Ngày 16/12/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Quyết định số 25 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong (đã được xóa).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/6/2025 tại Trại giam Công an tỉnh Sơn La - Phân trại tạm giam khu vực Mộc Châu cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thị Út L; sinh năm 1974; Nơi cư trú: T40, Phường T, thị xã M, tỉnh Sơn La, co mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu C khai nhận như sau: Bản thân nghiện ma túy, khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02/6/2025 Nguyễn Hữu C điều khiển xe máy BKS 26AA – 038.11 (xe của em gái Chiến tên là Nguyễn Thị Út L; trú tại T40, Phường T, tỉnh Sơn La) đi đến khu vực cây xăng thuộc Tổ dân phố B, phường T, thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay Tổ dân phố B, phường T, tỉnh Sơn La) thì gặp một người đàn ông giới thiệu tên L từ ngày hôm trước (không rõ họ, địa chỉ). Qua trao đổi, C hỏi mua được của L 700.000 đồng ma rúy tổng hợp và Heroine vào số tiền 700.000đồng mà C cho L mượn vào ngày 01/6/2025. L đồng ý và hẹn C khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày đến ngã ba tổ dân phố B, phường T lấy ma túy L để trong bao thuốc lá Thăng Long màu vàng ở ven đường. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, C điều khiển xe máy BKS 26AA – 038.11 đến diểm hẹn và lấy được gói ma túy mang về. Trên đường về thì C gặp tổ công tác Công an tỉnh Sơn La yêu cầu dừng xe kiểm tra, Chiến đã thả gói ma túy xuống gần vị trí dừng xe thì bị phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 05 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên có chữ WY, 0,07 gam chất cục bột màu trắng đều nghi la ma túy, 01 xe máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro.

Hiện trường nơi bị cáo Nguyễn Hữu C lấy ma túy tại đường dân sinh ngõ 67 đường Đặng Thùy Trâm thuộc tổ dân phố Bì, phường T, tỉnh Sơn La. Đường bê tông có chiều rộng 3,8 mét. Phía bắc giáp đất nhà ông Trần Văn G; Phía Nam giáp cổng nhà bà Hoàng Thị Thanh H; Phía Đông giáp nhà Phan Quang L: Phía Tây giáp đất vườn nhà ông Trần Văn G. Cách đầu ngõ 67 là 150m. Vị trí bị cáo Nguyễn Văn C nhặt vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng đựng ma túy cách cổng nhà bà Hoàng Thị Thanh H 8,50 mét. Cách tường rào nhà ông Nguyễn Hải N 8,70 mét.

Ngày 02/6/2025 Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La cân tịnh, xác định khối lượng 05 viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Hữu C được 0,47 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, có ký hiệu C; Chất cục bột màu trắng được 0,07 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu C1.

Tại bản kết luận giám định số: 633/KL – KTHS ngày 05/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam. Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine; có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,47 gam, loại Methamphetamine và 0,07 gam loại Heroine ”. Mẫu gửi giám định ký hiệu C, C1 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Căn cứ vào Điều 4, chương II của Nghị định số: 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật hình sự và mục I phụ lục kèm theo được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 184/2025/NĐ – CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và được sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực An ninh, trật tự thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng Heroine là 0,07gam và 0,47 gam Methamphetamine (0,07 + 0,47gam = 0,54 gam; dưới 05 gam).

Tại bản cáo trạng số 25/CT - VKS ngày 22/8/2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 6, tỉnh Sơn La đã truy tố Nguyễn Hữu C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu C về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy:

a, Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Chiến từ 36 đến 42 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

b, Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị:

Tuyên tiêu huỷ: 01 chiếc phong bì do Phòng Cảnh sát ĐTTP về ma túy Công an tỉnh Sơn La phát hành còn niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ; Vật chứng còn lại vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Út L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu CITICUD màu sơn xanh, BKS: 26AA – 038.11, theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu C 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro vỏ màu xám.

c, Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Do hành vi của bị cáo đã rõ, nên bị cáo Nguyễn Hữu C không có ý kiến gì tranh luận đối đáp với Kiểm sát viên tại phiên tòa, lời nói sau cùng bị cáo đề nghi HĐXX xem xét giảm nhẹ mức cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng hai chất ma túy bị thu giữ là 0,54 gam”. Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 02/6/2025 bị cáo Nguyễn Hữu C, sinh năm 1972 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,54 gam Heroine và Methamphetamine.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, phá hoại nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây xói mòn đạo lý, là nguyên nhân làm gia tăng các tội phạm khác, vắt kiệt nhân lực, tài chính và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc mua hai chất ma túy là Heroine và Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù; Do bị cáo Nguyễn Hữu C thực hiện hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, nên áp dụng Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật 59/2024/QH15 (gọi là Bộ luật hình sự) để xét xử bị cáo Nguyễn Hữu C theo điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội là phù hợp với quy định của pháp luật; Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu C khai nhận việc bị truy tố và bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.

Xét về nhân thân của bị cáo: Tại bản án số 06/1998/HSST ngày 13/02/1998 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội Cưỡng đoạt tài sản của công dân, thử thách là 18 tháng.

- Tại bản án số 78/1999/HSST ngày 28/12/1999 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Tại bản án số 138/2003/HSST ngày 14/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tại bản án số 35/2003/HSPT ngày 31/12/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, sửa một phần bản án số 138 ngày 14/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện M; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách là 18 tháng.

- Tại bản án số 02/2008/HSST ngày 07/10/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự thì tiền án trên đương nhiên được xóa án tích. Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, nhưng do nghiện ma túy nên bị cáo lại tiếp tục đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Như vậy lần phạm này bị cáo vẫn được coi là có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố là ông Nguyễn Hữu T là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất và hạng nhì là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Hữu Chiến.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Nguyễn Hữu C khai mua với 01 người đàn ông tên L, C gặp tại khu vực đường dân sinh, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số 0,54 gam Heroine và Methamphetamine.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu CITICUD, màu sơn xanh, BKS 26AA - 038.11 xe đã qua sử dụng. Qua điều tra, xác minh, chiếc xe máy nêu trên thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị Út L (em gái của bị cáo C) bà L giao cho bị cáo C để đi giao hàng cho khách, việc bị cáo C sử dụng xe máy của bà tiện làm phương tiện đi mua ma túy, bà L không biết và liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo C; Do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Út L chiếc xe máy nêu trên cho bà quản lý, sử dụng là có căn cứ chấp nhận.

Xét quan điểm luận tội về việc giải quyết toàn bộ vụ án của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vật chứng vụ án: 01 chiếc phong bì do Phòng Cảnh sát ĐTTP về ma túy Công an tỉnh Sơn La phát hành còn niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ; Vật chứng còn lại vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng vụ Nguyễn Hữu C là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro vỏ màu xám, bên trong gắn thẻ sim 0366157726, đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong. Qua điều tra, xác minh thì chiếc điện thoại nêu trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; Do đó cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu C 01 chiếc điện thoại trên, theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu án phí hình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 36 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tiêu hủy: - 01 chiếc phong bì do Phòng Cảnh sát ĐTTP về ma túy Công an tỉnh Sơn La phát hành còn niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ; Vật chứng còn lại vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu + 01 mảnh nilon màu xanh + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.

- Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro vỏ màu xám, số IMEL1 350905822064073, IMEL2 350905822148363 lắp sim số 0366157726, đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong.

Theo biên bản bàn giao vật chứng số: 24/BBVC - THA ngày 26/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La.

- Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu CITICUD, màu sơn xanh, BKS 26AA - 038.11, xe đã qua sử dụng cho bà Nguyễn Thị Út L quản lý và sử dụng.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Hữu C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Hữu C, người liên quan bà Nguyễn Thị Út L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TA ND Tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND khu vực 6 (02);

- Công an (02);

- THA hình sự;

(Đã ký)

- THA DS tỉnh Sơn La;

- Trại Giam;

- Phòng hồ sơ nghiệp vụ (PV06) Công an tỉnh Sơn La;

Bàn Văn Hoàng

- Bi cáo;

- Lưu hồ sơ;

Cỡ chữ