- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 17-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Quân và ông Trần Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Lượng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị Châu L; Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 11 năm 1989 tại: huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Quê quán: xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 042189019773; cấp ngày 07 tháng 01 năm 2022. Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH Bộ Công an; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Trần Công Tr, sinh năm 1954 (đã chết); Con bà: Võ Thị Th, sinh năm 1955, nghề nghiệp: Làm ruộng; Trú tại: Thôn 5, xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột: Có 5 người, bị can là con thứ tư; Chồng: Thái Văn L, sinh năm 1986, nghề nghiệp: Lao động tự do; Con: Thái Thị Mai Gi, sinh năm 2012, còn nhỏ; Chồng, con trú tại: Thôn 5, xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 21/3/2025 đến ngày 21/5/2025 tại xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Nay có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện bị hại: Bùi Văn Nh, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khối A, TT X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; “vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- Người làm chứng:
+ Võ Thị Th; Sinh năm: 1955; Địa chỉ: Thôn 5, xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. “vắng mặt”.
+ Nguyễn Thị B; sinh năm: 1975; Thôn 5, xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. “vắng mặt”.
+ Trần Thị Th; sinh năm: 1981; Thôn 5, xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 10/01/2025, Trần Thị Châu L (có giấy phép lái xe hạng A1, số 401139004475, do Sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 21/3/2013) điều khiển xe mô tô BKS 38N1- 050.71 đi từ xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đến TT X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh theo tuyến đường tránh Quốc lộ 1A đến Quốc lộ 8B. Khi đi đến Km16+500 Quốc lộ 8B thuộc tổ dân phố 4, TT X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh thì L phát hiện ông Bùi Văn Ch (sinh năm 1949, trú tại tổ dân phố A, TT X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) đang điều khiển xe đạp, chở phía sau thùng bìa catton đi bên phải phía trước cùng chiều. Tuy nhiên, do trời tối, không có đèn đường chiếu sáng, đèn xe mô tô của L chỉ đủ quan sát được khoảng cách ngắn, nên khi phát hiện được ông Ch đi phía trước thì khoảng cách đã quá gần (khoảng 03m) nên L không kịp lách tránh, dẫn đến phần tay lái phía bên phải của xe mô tô BKS 38N1- 050.71 do L điều khiển va chạm vào phía sau bên trái thùng bìa cát tông chở sau xe đạp do ông Ch điều khiển làm cho L, ông Ch cùng hai phương tiện bị ngã ra đường. Hậu quả ông Bùi Văn Ch bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An, đến ngày 23/01/2025 thì tử vong.
- Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 18 giờ 20 phút ngày 10/01/2025 tại Km 16 + 500 Quốc lộ 8B, TT X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh và kết quả dựng lại hiện trường phản ánh:
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn tại Km16+500 Quốc lộ 8B thuộc tổ dân phố 4, TT X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, đã bị xáo trộn một phần do quá trình đi lại cấp cứu nạn nhân, tuy nhiên không ảnh hưởng tới thay đổi bản chất hiện trường. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, nằm ngoài khu vực đông dân cư không có hệ thống biển báo, đèn chiếu sáng. Mặt đường rải thảm nhựa bằng phẳng, tầm nhìn thoáng, rộng 7m, ở giữa có vạch sơn màu vàng đứt quãng. Phía Bắc là hướng đi TT X, phía Nam là hướng đi xã Xuân L, phía Đông, phía Tây tiếp giáp khu vực đồng ruộng. Lấy cột điện số 09 ở bên phải Quốc lộ 8B hướng xã Xuân L đi TT X làm điểm mốc cố định, lấy mép nhựa bên phải theo hướng xã Xuân L đi TT X làm mép chuẩn xác định các dấu vết như sau:
Từ mốc cố định đo về hướng TT X 2,8m là vết cày nằm trên mặt đường nhựa, chiều hướng xã Xuân L đi TT X, kích thước (0,6x0,01)m, từ điểm dầu vết cày đo vào mép chuẩn là 02m, điểm cuối vết cày đo vào mép chuẩn là 1,75m (vết cày số 1).
Từ điểm cuối vết cày số 1 đo về hướng TT X 0,05m là điểm đầu vết cày trên mặt đường nhựa (vết cày số 2), chiều hướng xã Xuân L đi TT X, kích thước (1,5x0,01)m, từ điểm đầu vết cày đo vào mép chuẩn là 1,65m, điểm cuối vết cày đo vào mép chuẩn là 1,1m.
Từ điểm đầu vết cày số 2 đo về hướng TT X 0,65m là xe đạp màu xanh, nằm ngã nghiêng về bên trái, đầu hướng xã Xuân L, đuôi hướng TT X, tâm trục bánh trước đo vào mép chuẩn là 0,8m, tâm trục bánh sau đo vào mép chuẩn là 0,8m.
Từ tâm trục bánh sau xe đạp đo về hướng TT X 0,5m là tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 38N1-050.71, xe mô tô nằm ngã nghiêng bên trái, đầu hướng TT X, đuôi hướng xã Xuân L, tâm trục bánh sau đo vào mép chuẩn là 1,75m, tâm trục bánh trước đo vào mép chuẩn là 1,25m.
Từ tâm trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 38N1-050.71 đo về hướng TT X 0,4m là tâm vùng máu trên mặt đường nhựa, kích thước (0,5x0,6)m, tâm vùng máu đo vào mép chuẩn là 2,25m (vùng máu 1).
Từ tâm vùng máu 1 đo về hướng TT X 02m là tâm vùng máu trên mặt đường nhựa (vùng máu 2), kích thước (0,25x0,35)m, tâm vùng máu 2 đo vào mép chuẩn là 2,78m.
- Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn, xe mô tô biển kiểm soát 38N1-050.71 lập hồi 9 giờ 00 phút ngày 11/01/2025 tại Công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh phản ánh:
Mặt ngoài chốt định vị bánh xe phía trước bên trái có dấu vết trầy xước, mài mòn kim loại, kích thước (01x01)cm, trên bề mặt bám dính chất màu nâu; Mặt ngoài lõi sắt bàn để chân bên trái của người điều khiển bị mài mòn kim loại, kích thước (02x01)cm, bị cong vênh chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (01x 02)cm; Mặt ngoài giá sắt chở hàng tự chế phía dưới bên trái bị mài mòn kim loại, kích thước (03x02)cm, tâm dấu vết cách mặt đất 30cm.
- Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn (xe đạp) lập hồi 9 giờ 51 phút ngày 11/01/2025 tại Công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh phản ánh:
Xe đạp nữ màu xanh, phía sau có chở một số bìa cat tông KT (84 x 44 x 50)cm. Mặt sau bên dưới chắn bùn phía trước có vết trầy xước kim loại KT (5 x 1) cm, tâm dấu vết cách mặt đất 42 cm.
- Kết quả trưng cầu giám định pháp y tử thi ngày 23/01/2025:
Vùng trán đỉnh bên phải, cách trên đuôi lông mày phải 2cm có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước: 10cm x 6cm; Vùng thái dương bên phải, cách trên đỉnh vành tai phải 2cm có vết phẫu thuật hình cánh cung dài 26cm, được khâu bởi 25 mũi chỉ khâu; Vùng thái dương đỉnh trái, cách trên đỉnh vành tai phải 6cm, cách trên đường chân tóc gáy 11 cm có vết đỏ da, kích thước: 7 cm x 6cm; Hốc mắt phải bầm tụ máu; Vùng gò má bên phải có vết xây xát da, kích thước: 3cm x 2cm (đã đóng vảy); Mu bàn tay hai bên có một số vết xây xát da nằm rải rác (đã đóng vảy).
Tại Kết luận giám định số 315/KL-KTHS ngày 14/02/2025 của phòng PC09 Công an tỉnh Hà Tĩnh xác định nguyên nhân chết của ông Bùi Văn Ch là do chấn thương sọ não.
- Kết luận giám định số 394/KL-KTHS, ngày 12/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Không đủ cơ sở để kết luận hai phương tiện xe mô tô BKS 38N1 - 050.71 và xe đạp nữ màu xanh có va chạm với nhau hay không, và va chạm trên phần đường nào.
- Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, Ma tuý: Tại phiếu xét nghiệm nồng độ cồn của ông Bùi Văn Ch, xác định nồng độ cồn là 16,04mmol/l máu. Tại phiếu xét nghiệm nồng độ cồn của chị Trần Thị Châu L xác định nồng độ cồn 0 mmol/l máu
Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân đã đề nghị Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của ông Bùi Văn Ch và chị Trần Thị Châu L, nhưng Bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An không thực hiện việc xét nghiệm.
+ Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu, xử lý vật chứng:
- Thu giữ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 38N1-050.71 của Trần Thị Châu L;
- Thu giữ 01 (một) xe đạp màu xanh của ông Bùi Văn Ch;
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số 401139004475, do Sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 21/3/2013 mang tên Trần Thị Châu L.
Quá trình điều tra, đã xác định: Chiếc xe mô tô BKS 38N1-050.71 liên quan đến tai nạn thuộc sở hữu của bị cáo Trần Thị Châu L, sau khi khám nghiệm đã trả lại cho Trần Thị Châu L.
Chiếc xe đạp liên quan đến tai nạn thuộc sở hữu của ông Bùi Văn Ch, sau khi khám nghiệm đã trả lại cho anh Bùi Văn Nh (con trai và là người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Văn Ch) Còn giấy phép lái xe mang tên Trần Thị Châu L hiện chưa được xử lý và chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Về phần dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho anh Bùi Văn Nh (là người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Văn Ch) số tiền 125.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Trần Thị Châu L.
Với hành vi trên, Cáo trạng số 20/CT –VKSNX ngày 08/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân đã truy tố bị cáo Trần Thị Châu L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu ở trên. Người đại diện hợp pháp cho người bị hại quá trình xét xử có mặt không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về mặt dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị Châu L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Trần Thị Châu L mức án từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tu dưỡng bản thân, có điều kiện sửa chữa lỗi lầm để trở thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 10/01/2025, Trần Thị Châu L (có giấy phép lái xe hợp kệ) điều khiển xe mô tô BKS 38N1- 050.71 đi theo hướng xã Xuân L đến TT X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Khi đi đến Km16+500 Quốc lộ 8B, thuộc tổ dân phố 4, TT X, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, do trời tối, không có đèn đường chiếu sáng và đèn xe mô tô không đủ sáng, nên khi phát hiện được xe đạp đi phía trước cùng chiều do ông Bùi Văn Ch điều khiển thì khoảng cách đã quá gần, nên đã để phần tay lái bên phải xe mô tô do L điều khiển va chạm với bên trái chồng bìa catton phía sau xe đạp do ông Bùi Văn Ch điều khiển. Hậu quả, ông Ch bị thương, phải đi cấp cứu và điều trị đến ngày 23/01/2025 thì tử vong.
Hành vi điều khiển xe mô tô của bị cáo Trần Thị Châu L khi phát hiện xe đạp của ông Bùi Văn Ch đang đi cùng chiếu với xe mình nhưng do khoảng cahcs quá gần nhưng bị cáo vẫn tiếp tục điều khiển xe nên đã để phần tay lái bên phải xe mô tô do L điều khiển va chạm với bên trái chồng bìa catton phía sau xe đạp do ông Bùi Văn Ch khi điều kiện không đảm bảo an toàn, hành vi không chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe: đã vi phạm vào quy định tại điểm c khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ quy định: Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe:...3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:c) Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế; Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 “Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người…..,”. Do đó việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm an toàn giao thông được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng sức khỏe của người khác, gây tổn thất, đau thương cho gia đình của người bị hại đồng thời làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân khi tham gia giao thông nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; người đại diện cho người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý và có một phần lỗi của người bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, bị cáo tuổi đã cao. Vì vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại, không có yêu cầu gì về mặt dân sự và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại, các chủ sở hữu đã nhận được HĐXX miễn xét. Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 401139004475, do Sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 21/3/2013 mang tên Trần Thị Châu L. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Châu L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị Châu L 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Xuân L, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số 401139004475, do Sở giao thông vận tải tỉnh Nghệ An cấp ngày 21/3/2013 mang tên Trần Thị Châu L đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án cho bị cáo.
4. Về án phí: Bị cáo Trần Thị Châu L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đã được niêm iết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Nghi Xuân; - CQCSĐT Công an huyện Nghi Xuân; - CQTHAHS Công an huyện Nghi Xuân; - Hồ sơ Công an; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - Chi cục THADS huyện Nghi Xuân; - Bị cáo; Người đại diện hợp pháp cho người bị hại; Người có QL&NVLQ; - UBND xã Xuân L, Nghi Xuân; - Lưu: HS; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Hương |