vanban.org

Bản án 22/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ các Điều 136 260 331 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Lạm d ng tín nhiệm chi m đoạt tài sản”. Về trách nhiệm hình sự: C n cứ vào khoản 3 Điều 175; điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự n m 2015 sửa đổi bổ sung n m 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc T - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ các Điều 136 260 331 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HS-ST
Ngày: 14-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Minh Trung.

Ông Trương Ngọc Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Minh Hi u – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- i di n i n ki m s t nh n d n thành ph Th ầu Một tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 n m 2025 tại tr s Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 291/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 12 n m 2024 theo Quy t định đưa v án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 03/02/2025 đối với bị cáo:

Vũ Ngọc T sinh n m 1992 tại tỉnh Nam Định CCCD: 077092007332; Nơi ĐKHKTT: Ấp P xã H huyện X tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ V n L và bà Đặng Thị Y; Có 02 con lớn sinh n m 2014 nhỏ sinh n m 2016; Tiền án tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 30/11/2023 cho đ n nay có mặt.

Bị hại: Ông Nguy n V n X sinh n m 1984; địa chỉ: Số B đường N Khu phố C phường P thành phố T tỉnh Bình Dương có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Vũ V n H sinh n m 1975; địa chỉ: Thôn T xã Y huyện Y tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Ông Cáp Đức H1 sinh n m 1973; địa chỉ: Số A đường B phường A thành phố D tỉnh Bình Dương vắng mặt.

Ông Lê V n T1 sinh n m 1976; địa chỉ thường trú: Thôn T xã Y huyện Y tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ tạm trú: Số F Khu phố B phường A thành phố D tỉnh Bình Dương có mặt.

Bà Lưu Thị T2 sinh n m 1979 địa chỉ: Thôn H xã M huyện P tỉnh Bình Định, vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vũ Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Do cần xe để đi ch hàng nên ngày 09/5/2017 tại nhà của ông Nguy n V n X sinh n m 1984 địa chỉ tại số B đường N khu phố C phường P thành phố T tỉnh Bình Dương, T và ông X ký Hợp đồng thuê xe tự lái số 0905/HĐKT theo đó ông X cho T3 thuê 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu Thaco màu xanh tải trọng 2.300 kg biển số 61C-226.63 số khung 25B4CC072351 số máy 93ZLQ1A07799 thời gian thuê từ 07 giờ 45 phút ngày 09/5/2017 đ n 07 giờ 45 phút ngày 09/11/2017 tiền thuê xe T phải trả cho ông X hàng tháng là 10.000.000₫ (mười triệu đồng). Sau khi thuê được xe ô tô trên, T không trả tiền thuê xe cho ông X được tháng nào và đ n tháng 7/2017 T đã tự ý đi cầm chi c xe trên cho Vũ V n H sinh n m 1975 thường trú tại thôn T, xã Y, huyện Y tỉnh Thanh Hóa được số tiền 50.000.000đ (n m mươi triệu đồng) (khi cầm xe hai bên có vi t giấy nhưng hiện đã bị thất lạc nên không thể giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra). Sau đó T tiêu xài h t số tiên này và bỏ trốn. Đối với ông Nguy n V n X do không liên lạc được với T nên ngày 02/02/2022, ông X làm đơn tố giác gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để yêu cầu xử lý T về hành vi lạm d ng tín nhiệm chi m đoạt tài sản.

C n cứ Bản k t luận định giá tài sản số 143/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố t ng hình sự thành phố T k t luận: 01 xe ô tô tải (bị chi m đoạt tại thời điểm n m 2017) nhãn hiệu Thaco màu xanh tải trọng 2.300 kg biển số 61C-226.63 số khung 25B4CC072351 số máy 93ZLQ1A07799 có trị giá là 250.000.000đ (hai tr m n m mươi triệu đồng).

C n cứ K t luận giám định số 689/KL-KTHS (SKSM) ngày 05/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B k t luận: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco màu xanh dương tải trọng 2.300 kg biển số 61C-226.63 có số khung 25B4CC072351 và số máy 93ZLQ1A07799 không đổi không phát hiện bị cắt hản đ c sửa.

Đối với 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu Thaco màu xanh tải trọng 2.300 kg biển số 61C-226.63 quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xác định được ông Cáp Đức H1 sinh n m 1973 cư trú tại số A đường B phường A thành phố D tỉnh Bình Dương là người đang sử d ng. Vào n m 2019 ông H1 và ông Lê V n T1 sinh n m 1976 cư trú tại thôn T xã Y huyện Y tỉnh Thanh Hóa cùng nhau mua chi c xe trên từ bà Lưu Thị T2 sinh n m 1979 thường trú tại thôn H, xã M huyện P tỉnh Bình Định (là vợ của Vũ V n H) với giá 110.000.000đ (một tr m mười triệu đồng) (việc mua bản không làm giấy tờ và thời điểm này H đang đi chấp hành án phạt tù nên không bi t việc mua bán này). Qua làm việc ông H1 và ông T1 tự nguyện giao nộp chi c xe trên để ph c v điều tra nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu M đã tạm giữ chi c xe trên đ n ngày 25/5/2023 ra Quy t định xử lý tài sản đồ vật tài liệu số 100/QĐ-CSĐT-ĐTTH để giao trả cho ông Nguy n Ngọc X1. Hiện ông Cáp Đức H1 và ông Lê V n T1 không có yêu cầu gì còn Vũ V n H không yêu cầu gì liên quan đ n v án này mà chỉ yêu cầu bị cáo trả số tiền đã vay ông H trước đó.

Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho ông X1 số tiền 100.000.000đ (một tr m triệu đồng). Ông X1 đã nhận đủ số tiền này tự nguyện có Đơn bãi nại xin mi n truy cứu trách nhiệm hình sự cho T1 và hiện không có yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 271/CT-VKSTDM ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố Vũ Ngọc T về tội “Lạm d ng tín nhiệm chi m đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự n m 2015 sửa đổi bổ sung n m 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguyên quy t định truy tố bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng khoản 3 Điều 175; điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 sửa đổi bổ sung n m 2017 xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 05 n m tù đ n 6 n m tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quy t.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý ki n tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một Kiểm sát viên trong quá trình kh i tố điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi quy t định của Cơ quan ti n hành tố t ng người ti n hành tố t ng. Do đó quy t định hành vi tố t ng của Cơ quan ti n hành tố t ng người ti n hành tố t ng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra biên bản hỏi cung bị can biên bản lấy lời khai của bị hại người có quyền lợi nghĩa v liên quan cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án đủ cơ s k t luận: Vào ngày 09/5/2017 tại nhà số B đường N khu phố C phường P thành phố T tỉnh Bình Dương sau khi bị cáo Vũ Ngọc T thuê được xe ô tô tải có mui nhãn hiệu Thaco màu xanh biển số 610-226.63 trị giá 250.000.000đ (hai tr m n m mươi triệu đồng) của bị hại Nguy n Ngọc X1 đ n tháng 7/2017 bị cáo T đã đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài rồi bỏ trốn. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Lạm d ng tín nhiệm chi m đoạt tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự n m 2015 sửa đổi bổ sung n m 2017. Bị cáo đủ n ng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có c n cứ đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Về nhận thức bị cáo bi t hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ cá nhân mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với l i cố ý trực ti p.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đ n quyền s hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra v án. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác d ng r n đe giáo d c bị cáo tr thành công dân có ích cho xã hội.

Tình ti t t ng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại có thái độ thành khẩn khai báo n n n hối cải về hành vi phạm tội của mình bị hại tự nguyện có đơn bãi nại và đề nghị mi n truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là các tình ti t giảm nhẹ quy định tại điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự n m 2015 sửa đổi bổ sung n m 2017. C n cứ vào nhân thân cũng như các tình ti t giảm nhẹ xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

C n cứ tính chất mức độ hậu quả của hành vi mà bị cáo thực hiện cũng như nhân thân các tình ti t giảm nhẹ xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quy t. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan ông H yêu cầu bị cáo trả số tiền đã vay thì do không liên quan đ n v án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về biện pháp tư pháp xử lý vật chứng: không có.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ các Điều 136 260 331 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Lạm d ng tín nhiệm chi m đoạt tài sản”.

2. Về trách nhiệm hình sự: C n cứ vào khoản 3 Điều 175; điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự n m 2015 sửa đổi bổ sung n m 2017;

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 05 (n m) n m tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/11/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quy t.

4. Về biện pháp tư pháp xử lý vật chứng: Không có.

5. Về án phí: C n cứ Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về mức thu mi n giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vũ Ngọc T phải chịu 200.000đ (hai tr m nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo người có quyền lợi nghĩa v liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm y t công khai.

Cỡ chữ