- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày: 15 – 7 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị An
2. Bà Hoàng Thị Phụng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:
Phan Văn T, sinh ngày 11/10/1962; Nơi cư trú: Thôn T1, xã V, thành phố T2, tỉnh T2 (nay là thôn T1, phường T3, tỉnh H); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phan Văn C (đã chết) (ông C được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị T4 và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án số 61/HSST ngày 13/7/1992 của Tòa án nhân dân tỉnh T2 xử phạt 18 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/7/1992, chấp hành xong phần dân sự và án phí ngày 30/3/1996.
Bản án số 187/HSST ngày 20/10/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh T2 xử phạt 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 03/6/1999, phạt quản chế 03 năm kể từ sau khi chấp hành xong án phạt tù, phạt bổ sung 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/8/2003, chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung ngày 23/9/2011.
Bản án số 241/2006/HSST ngày 26/6/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh S xử phạt 18 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2017, chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung ngày 23/9/2011.
Bị tạm giữ từ ngày 15/3/2025 đến ngày 21/3/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Hưng Yên. (có mặt)
- Người chứng kiến:
+ Anh Trần Tuấn Đ, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Phòng 612, toà B, chung cư S1, khu đô thị P, tổ 6, phường Q, thành phố T2, tỉnh T2 (nay là phòng 612, toà B, chung cư S1, khu đô thị P, tổ 6, phường T5, tỉnh H).
+ Anh Nguyễn Sơn Ngọc M1, sinh năm 1996. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà 03, ngõ 177, đường H1, tổ 3, phường L, thành phố T2, tỉnh T2 (nay là số nhà 03, ngõ 177, đường H1, tổ 3, phường T2, tỉnh H).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 15/3/2025, Phan Văn T đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà đến khu vực thị trấn Q1, huyện Q2, tỉnh T2 gặp và mua của một người đàn ông tên T6 nhưng không biết họ, tuổi, địa chỉ 01 túi nilon bên trong có 05 gói ma túy, loại Heroine với giá 1.000.000 đồng, sau đó T cất giấu ma túy vào túi quần bên trái phía trước rồi bắt xe ôm về nhà. Khi về nhà thấy không có ai ở nhà, T cất giấu toàn bộ số ma túy vừa mua được vào trong tủ kính phòng khách. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, T lấy 02 gói ma túy rồi đi ra ngoài tìm chỗ để sử dụng. Khi T đang đứng trước cửa nhà ở thôn T7, xã V, thành phố T2, tỉnh T2 thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Bình (nay là Công an tỉnh Hưng Yên) phối hợp cùng Công an xã V, thành phố T2, tỉnh T2 phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Trần Tuấn Đ và anh Nguyễn Sơn Ngọc M1, T đã tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 02 gói, bên ngoài gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành kiểm tra người T, không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Văn T tại thôn T7, xã V, thành phố T2, T đã tự giác lấy từ trong tủ kính ở phòng khách ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong có 03 gói bên ngoài đều được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định.
Bản kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 20/3/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Phan Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,4598 gam (không phẩy bốn nghìn năm trăm chín mươi tám gam). Mẫu vật quản lý của Phan Văn T khi khám xét chỗ ở của Phan Văn T là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,8973 gam (không phẩy tám nghìn chín trăm bảy mươi ba gam).
Bản Cáo trạng số 111/CT-VKSTPTB ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên) truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên) để xét xử đối với Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì bên ngoài ghi số 242/KL-KTHS.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên) đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Phan Văn T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 15/3/2025 tại thôn T7, xã V, thành phố T2, tỉnh T2, Phan Văn T có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,4598 gam ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra Phan Văn T còn tàng trữ tại chỗ ở của mình ở thôn T7, xã V, thành phố T2, tỉnh T2 0,8973 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổng khối lượng ma túy, loại Heroine, T tàng trữ trái phép mục đích để sử dụng là 1,3571 gam.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
Hành vi của Phan Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhân thân xấu, bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên) truy tố đối với bị cáo Phan Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ là ông Phan Văn C được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của bị cáo Phan Văn T còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Phan Văn T khai mua ma túy của một người đàn ông tên T6, không biết họ, tuổi, địa chỉ tại khu vực thị trấn Q1, huyện Q2, tỉnh Thái Bình, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 15/3/2025).
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Phan Văn T hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì, bên ngoài ghi số 242/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/6/2025).
4. Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND khu vực 5-Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hưng Yên; - Phân trại tạm giam; - THADS tỉnh Hưng Yên; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lý |