- Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh M1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒ A Á N NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 15-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kiều Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
2. Ông Lê Trường Hận
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Khương Bửu Bửu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Danh My, sinh ngày 28/02/2000 tại Bạc Liêu; nơi cư trú: Số A, Khóm B, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phường H, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh M, sinh năm 1977 và bà Lý Thị A, sinh năm 1979; chưa có vợ và con; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 24/11/2020 Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu ra Quyết định số 114/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, đã chấp hành xong ngày 21/3/2023, chưa được xóa tiền sự; Nhân thân: Ngày 01/10/2018 Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu ra Quyết định số 181/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong ngày 01/01/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/01/2025 đến ngày 10/01/2025 bị khởi tố bị can và bị tạm giam từ ngày 11/01/2025 cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 50 phút, ngày 02/01/2025, tại Đường C thuộc thuộc Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau), Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - ma túy Công an thành phố B và Công an P, thành phố B bắt quả tang bị cáo Danh M1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra bị cáo M1 khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/01/2025 do muốn sử dụng ma túy, bị cáo M1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 55P4-1447, từ nhà số A, khóm B, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau) đến khu vực cầu S, Khóm F, Phường G, thành phố B (nay là Khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau) mua ma túy từ người thanh niên tên Nguyễn Công Đ với số tiền 185.000 đồng. Sau khi mua ma túy, bị cáo M1 cất giấu bịch ma túy vào bên trong túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi điều khiển về nhà. Đến khoảng 20 giờ 50 phút tại Đường C thuộc khóm C, phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau) thì bị bắt quả tang và thu giữ các tang vật có liên quan.
Tại bản Kết luận giám định số 04/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận về đối tượng giám định: “Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể), bên trong 01 (một) bịch nylon màu trắng hàn kín, có nẹp miệng, gần nẹp miệng có đường viền màu đỏ, kích thước 2,2cm x 1,5cm (ký hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,11238 gam.
Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của cơ quan chuyên môn.
Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 12 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau truy tố bị cáo Danh M1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cà Mau giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Danh M1, bị cáo bị bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy, theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn chất ma túy thu giữ được có khối lượng là 0,11238 gam đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Danh M1 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng là 0,10743 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, bao gói được chứa trong phong bì. Về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Danh M1 giữ nguyên các lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình truy điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Danh M1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với Kết luận giám định số 04/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 50 phút, ngày 02/01/2025, tại Đường C thuộc thuộc Khóm C, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau), bị cáo Danh M1 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, với khối lượng là 0,11238 gam.
Xét thấy, bị cáo M1 có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, với tổng khối lượng là 0,11238 gam đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Bản thân bi ̣ cáo nhâ ̣n thứ c được ma tuý là chất gây nghiê ̣n nên Nhà nướ c đô ̣c quyền quản lý, ai có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý đều bi ̣ pháp luâ ̣t xử lý nghiêm, nhưng vi lợi
̀ ích cá nhân mà bi ̣ cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi nêu trên của bị cáo M1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Cà Mau truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo Danh M1 là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội. Hành vi của bi ̣ cáo không những xâm pha ̣m đến quyền độc quyền quản lý của Nhà nướ c về các chất ma túy mà còn làm ảnh hưở ng đến tinh hinh an ninh trật tự
̀
̀ của toàn xa hô ̣̃ i. Bị cáo có 01 tiền sự đưa vào cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo vẫn tàng trữ chất ma túy để sử dụng. Vi vâ ̣y, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo
̀
nhằm giáo du ̣c, cải tạo bi ̣ cáo trở thành mô ̣t công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Từ những nội dung trên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Danh M1, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Công Đ là người bán ma túy cho Danh M1 tại khu vực cầu S thuộc khóm F, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm A, Phường B, tỉnh Cà Mau); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ban hành Quyết định khởi tố bổ sung vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên do chưa làm việc được với Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tách hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” thành một vụ án độc lập để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 55P4- 1447 của ông Nguyễn Cao H, ông H không biết M1 dùng để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông H là phù hợp.
Về vật chứng: Số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng là 0,10743 gam, các vật chứng trên là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Danh M1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Danh M1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Danh M1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 02/01/2025.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có chữ ký ghi tên Lương Văn K và 04 (bốn) dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B cùng dòng chữ “04/GĐMT-2025”. Gói niêm phong còn nguyên vẹn. (khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,10743 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, vỏ bịch nilon).
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Cà Mau theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/8/2025).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Danh M1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bản án hinh sự sơ thẩm bi ̣ cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
̀ trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - Văn phòng cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 6 – Cà Mau; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Cà Mau; - Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Kiều Thảo |