- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sồng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày 29-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Huyền Trang.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đinh Thị Minh Thúy.
2. Ông Trần Minh Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.
- Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sòi Hùng Thịnh, Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam khu vực P:
Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Sồng Ngọc Hạnh và ông Cầm Văn Duy.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực P, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Sồng A D; Sinh ngày 05 tháng 9 năm 1967 tại xã K, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản T, xã K, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: không; con ông Sồng A T (đã chết) và bà Giàng Thị G, sinh năm 1949; bị cáo có vợ Giàng Thị L, sinh năm 1969 và 04 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 24/8/2010, Sồng A D bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh sơn La xử phạt 60 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 19/8/2020, bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh sơn La xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (các án tích đó đã được xóa); bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2025 đến nay. Có mặt.
Người phiên dịch: Ông Thào A Chống; sinh năm 1971; nơi cư trú: tiểu khu 4, xã P, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Dễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 05/8/2025, Sồng A D đi từ nhà đến đầu bản T, xã K thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 60 tuổi, không quen biết. Người đó hỏi D có mua ma túy không, D đồng ý mua và đưa cho người phụ nữ đó số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), người phụ nữ cầm tiền rồi đưa cho D 02 gói nilon màu xanh bên trong là lớp nilon màu hồng đều có chứa chất bột màu trắng, sau đó đi đâu, làm gì D không biết. Sồng A D cất 02 gói ma túy vào trong túi quần bên trái rồi đi bộ xuống khu vực xã T chơi. Trên đường đi đến khu vực xã T, Sồng A D đã lấy một ít Heroine trong 01 gói nilon ra sử dụng bằng hình thức đốt, hít vào cơ thể. Khi Sồng A D đi đến khu vực xã T, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên.
Về vật chứng của vụ án gồm: 02 gói nilon đều có đặc điểm lớp nilon ngoài cùng là lớp nilon màu xanh, lớp nilon thứ hai là lớp nilon màu hồng bên trong đều có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Ngày 05/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La, Công an xã T phối hợp Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tiến hành bóc, mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng gói chất bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của Sồng A D. Kết quả: Gói thứ nhất có khối lượng 0,277 gam, ký hiệu D1; Gói thứ hai có khối lượng 0,518 gam, ký hiệu D2, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định. Tổng khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ là 0,795 gam.
Ngày 09/8/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 946, kết luận: Mẫu ký hiệu D1, D2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), khối lượng của mẫu gửi giám định là D1 = 0,277 gam, D2 = 0,518 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,795 gam, loại Heroine. Hoàn lại đối ượng giám định: Chất bột màu trắng ký hiệu D1, D2 có khối lượng D1 = 0,25 gam, D2 = 0,49 gam và vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Sồng A D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS-KV5 ngày 18 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La, truy tố bị cáo Sồng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại Dện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Sồng A D mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 02 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu hồng; chất bột màu trắng ký hiệu D1, D2 có khối lượng D1 = 0,25 gam, D2 = 0,49 gam. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sồng A D.
Ý kiến của bị cáo Sồng A D tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, luận tội của đại Dện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định:
Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận: Ngày 05/8/2025 Sồng A D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,795g (không phẩy bảy trăm chín mươi lăm gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo Sồng A D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát theo tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Sồng A D: Bị cáo Sồng A D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo Sồng A D là nghiêm trọng được quy định tại c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương mà còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sự phát triển về thể chất, tinh thần và kinh tế của chính bị cáo và là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Sồng A D: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 24/8/2010, Sồng A D bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh sơn La xử phạt 60 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 19/8/2020, D bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh sơn La xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, các án tích đó tuy đã được xóa nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà còn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với mục đích cá nhân.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy bị cáo Sồng A D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.
Về hình phạt bổ sung, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế vẫn còn khó khăn, bị cáo thuộc hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với số vật chứng gồm: 02 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh nilon màu hồng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, vật chứng không còn giá trị sử dụng; đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định gồm: D1 = 0,25 gam, D2 = 0,49 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy. Vì vậy, cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý.
Đối với nguồn gốc Heroine bị cáo Sồng A D khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông ở bản T, xã K, tỉnh Sơn La, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Công an xã K đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ, cơ sở để xử lý.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Sồng A D, Trưởng Công an xã T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Sồng A D bằng hình thức Cảnh cáo là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo thuộc Dện hộ nghèo; tại phiên tòa bị cáo xin miễn nộp tiền án phí thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy, cần xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
Tuyên bố bị cáo Sồng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Sồng A D 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2025 là ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 02 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu hồng; chất bột màu trắng ký hiệu D1, D2 có khối lượng D1 = 0,25 gam, D2 = 0,49 gam (số vật chứng trên đã được niêm phong).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút ngày 25/9/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La và Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
3. Về Án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sồng A D.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/9/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 5 - Sơn La; - Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Phân trại tạm giam khu vực P; - Trại tạm giam CA tỉnh Sơn La; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Huyền Trang |