vanban.org

Bản án 22/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hạng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Hạng A L 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 19/5/2025. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng sau giá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hạng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hạng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 22/2025/HS-ST
Ngày 17-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Sơn và ông Trần Văn Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Lâm, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 5

- Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện VKSND khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Khôi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Nà Hỳ, Công an tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Hạng A L, sinh năm 1990, tại tỉnh Y (nay là tỉnh L).

Tên gọi khác: Không có tên gọi khác.

Nơi ĐKHKTT: Bản N 1, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên (nay là bản N 1, xã N, tỉnh Điện Biên).

Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Lớp 2/12.

Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Hạng Súa T, đã chết ; Con bà: Lý Thị C, sinh năm 1968.

Bị cáo có vợ Lý Thị C, sinh năm 1994. Bị cáo có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/5/2025, tạm giam từ ngày 28/5/2025 đến ngày xét xử, có mặt.

* Người bào chữa C bị cáo Hạng A L: Bà Giàng Thị N, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 19/5/2025, Hạng A L bị lập biên bản bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà Thào A C ở bản N 1, xã N, tỉnh Điện Biên. Vật chứng thu giữ là 02 gói chứa 15 viên Methamphetamine. Quá trình điều tra, Hạng A L khai nhận số ma túy thu giữ trên là bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch ở khu vực đỉnh núi N, xã N, tỉnh Điện Biên với giá 50.000 đồng. Mua được ma túy, bị cáo cất vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Về đến nhà, bị cáo C số ma túy mua được vào trong gói thuốc lào rồi cất giấu trên giá gác bếp để sử dụng dần mỗi ngày một viên. Khoảng 23 giờ ngày 18/5/2025, bị cáo lấy gói ma túy ra chia làm 02 gói, một gói 07 viên, một gói 08 viên Methamphetamine rồi C vào trong túi quần đang mặc và đi bộ lên nhà Thào A C ở cùng bản để nhờ C đi làm nương. Khi bị cáo đang nói chuyện với C thì bị tổ công tác Công an xã N vào kiểm tra, vận động, giải thích, bị cáo đã tự giác giao nộp 02 gói Methamphetamine có khối lượng 1,732 gam.

Cáo trạng số 25/CT-VKS-KV5 ngày 25/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên truy tố bị cáo Hạng A L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự về quy định không có lợi đối với những hành vi xảy ra trước 00 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Tuyên phạt bị cáo Hạng A L từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 08 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.

Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST C bị cáo.

Người bào chữa C bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất trong mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm C bị cáo.

Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên và Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về chứng cứ phạm tội:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 00 giờ 10 phút ngày 19/5/2025 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Hạng A L bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an xã N đã thu giữ của bị cáo 02 gói, bên trong các gói chứa các viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng, đồ vật, tài liệu hồi 13 giờ 30 phút ngày 19/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 42, 43 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Hạng A L là 1,732 gam nghi là ma túy, gửi toàn bộ đi giám định.

Kết luận giám định số 471/KL-KTHS ngày 26/5/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 46 đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Hạng A L là 1,732 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định.

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa C thấy bị cáo Hạng A L có tội. Bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng C bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hạng A L có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Về tính chất mức độ phạm tội: Tổng khối lượng 02 gói Methamphetamine thu giữ của Hạng A L là 1,732 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 đến dưới 05 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 18 Điều 1 của Bộ luật hình sự 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù. Bị cáo được áp dụng khoản 1 Điều 4 Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật hình sự về quy định không có lợi đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025. Theo đó bị cáo được áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 02 năm đến 05 năm tù.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Hạng A L là người dân tộc Mông, cư trú tại xã N, tỉnh Điện Biên. Bị cáo là người sử dụng ma túy nhiều năm và chưa từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 của Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên và ý kiến của người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt C bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy đồng thời cải tạo thành người có ích C gia đình và xã hội.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Hạng A L.

Về vật chứng: Vật chứng là 1,732 gam Methamphetamine, gửi toàn bộ đi giám định và hoàn lại 1,46 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh nilon trong suốt, 01 mảnh giấy bạc màu vàng là vật không có giá trị sử dụng. Các vật chứng này cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST C bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các vấn đề khác: Nguồn gốc ma túy bị thu giữ bị cáo khai nhận mua một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng. Bị cáo bị bắt tại nhà Thào A C, kết quả điều tra Thào A C không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Hạng A L. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hạng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Hạng A L 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 19/5/2025.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy vật chứng sau giám định:

- Mẫu vật V1: 0,67 gam ma túy Methamphetamine; mẫu vật V2: 0,79 gam Methamphetamine được niêm phong trong một phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

- 01 mảnh nilon trong suốt, 01 mảnh giấy bạc màu vàng được C vào một phong bì của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên dán kín mép phong bì lại.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng hồi 16 giờ 30 phút ngày 28/8/2025 giữa Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 tỉnh Điện Biên).

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST C bị cáo Hạng A L.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Hạng A L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 17/9/2025.

Cỡ chữ