- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày: 29 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Mạnh Quyền;
Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Phúc và ông Trần Văn Dũng;
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 16/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 17/9/2025 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thanh C, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định và con bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/8/2025 đến ngày 16/8/2025 chuyển tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Ông Trần Đăng L, sinh năm 1971; (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, tỉnh Hưng Yên;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/8/2025, tổ công tác Công an xã Đ, tỉnh Hưng Yên, tiến hành kiểm tra các đối tượng thuộc diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn xã Đ, tỉnh Hưng Yên. Quá trình làm việc tại nhà ở của Nguyễn Thanh C, sinh năm 1997, trú tại thôn K, xã Đ, tỉnh Hưng Yên. C khai nhận, C vừa sử dụng ma túy xong và tự nguyện giao nộp 02 túi nilon màu trắng, trong đó 01 túi kích thước (2x2) cm, 01 túi kích thước (1,5 x 1,5) cm. Bên trong mỗi túi nilon đều chứa chất dạng tinh thể màu trắng. C khai là ma túy đá, C mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng nêu trên trong phong bì dán kín, ký hiệu A1 .
Ngày 10/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã tiến hành khám xét chỗ ở của C tại thôn K, xã Đ, tỉnh Hưng Yên. Qua khám xét thu giữ tại phòng ngủ của C 01 chai nhựa màu trắng, có dán bao bì màu xanh, nhãn hiệu Number1, kích thước (22 x 6) cm, có nắp màu đỏ, đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm 01 dây nhựa (dạng ống hút) màu vàng dài 45 cm, 01 lỗ cắm 01 coóng thủy tinh màu trắng, kích thước (13x 3,5)cm, 01 đầu được uốn cong thành hình cầu có lỗ. Bên trong có bám dính chất màu trắng; 01 bật nửa ga màu trắng, kích thước (7,5 x 2) cm nhãn hiệu Hoa Việt, phần đầu được tháo ra và gắn 01 thanh kim loại dài 02 cm, vật chứng đã được thu giữ, niêm phong ký hiệu A2 .
Kết luận giám định số 828/KL- KTHS ngày 13/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu A1, có khối lượng là: 0,206g (không phẩy hai không sáu gam) là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong coóng thủy tinh trong niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định, không xác định được khối lượng, là ma túy, loại: Methamphetamine.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Niêm phong ghi số 828/KL-KTHS bên trong có: 0,190g (không phẩy một chín không gam) Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu A1; 01 coóng thủy tinh trong niêm phong ghi ký hiệu A2; 02 túi đựng ma túy và 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh C khai nhận: Chiều ngày 10/8/2025 C đi bộ từ nhà ở của C đến cổng làng thôn K, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, để tìm mua ma túy đá về sử dụng. C đi bộ được một lúc thì gặp 01 người đàn ông lạ mặt đứng ở lề đường (C không biết nhân thân, lai lịch của người này). Người đàn ông này hỏi C mua ma túy đá không thì C đồng ý. Sau đó C đưa cho người đàn ông số tiền 400.000 đồng để mua 02 túi ma túy đá. Người đàn ông đưa cho C 02 túi ma túy đá, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng C xác định đây là ma túy đá nên C cầm 02 túi ma túy đá cho vào túi quần sau bên phải của C rồi đi về nhà cất giấu tại cửa sổ phòng ngủ của C. Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày C lấy 01 túi ma túy đá để sử dụng, C vừa sử dụng xong nửa túi ma túy thì bị lực lượng Công an vào kiểm tra. Quá trình kiểm tra, C tự nguyện giao nộp số ma túy còn lại cho lực lượng công an.
Ngày 10/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Thanh C bằng hình thức xét nghiệm nước tiểu. Kết quả C dương tính với Methamphetamine. Quá trình điều tra xác định bị cáo chưa tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc; chưa bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy ngày 10/8/2025.
Ngày 15/8/2025 Công an xã Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo C, bị cáo C khai không biết tên, tuổi, nhân thân lai lịch, bị cáo gặp lần đầu, nếu gặp lại bị cáo cũng không nhận ra. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ thông tin để xác minh, làm rõ .
Tại cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Thanh C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình.
Cáo trạng số 20/CT-VKSKV1 ngày 15/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Thanh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thanh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ghi số 828/KL-KTHS(MT), trong có: 0,190g (không phẩy một chín không gam) Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu A1; 01 coóng thủy tinh trong niêm phong ghi ký hiệu A2; 02 túi đựng ma túy và 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 đối với bị cáo Nguyễn Thanh C, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với nội dung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên; không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo cải tạo và trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định và phù hợp các vật chứng thu giữ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/8/2025, tại nhà ở của bị cáo Nguyễn Thanh C tại thôn K, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, bị cáo C có hành vi tàng trữ trái phép 0,206gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bản thân sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên truy tố là đúng tội danh, có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, góp phần gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo có nhân thân xấu, năm 2021 bị Toà án nhân dân huyện Phù Cừ xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 16/10/2022) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử và áp dụng một hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và là người biết tuân thủ pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2021 bị Toà án nhân dân huyện Phù Cừ xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 16/10/2022).
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay; bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm lao động tự do, không có thu nhập ổn định, là người sử dụng ma túy, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ghi số 828/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,190g (không phẩy một chín không gam) Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu A1 là chất nhà nước cấm tàng trữ nên sẽ tịch thu cho tiêu huỷ; 01 coóng thủy tinh trong niêm phong ghi ký hiệu A2; 02 túi đựng ma túy và 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu huỷ.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo C, Cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch nên không có căn cứ xem xét xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo C, quá trình điều tra xác định bị cáo chưa tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; không bị áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc; chưa bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với C về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy ngày 10/8/2025.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh C bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Nguyễn Thanh C.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/8/2025.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu cho tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bì thư ghi số 828/KL-KTHS(MT), trong có: 0,190g (không phẩy một chín không gam) Methamphetamine trong niêm phong ký hiệu A1; 01 coóng thủy tinh trong niêm phong ghi ký hiệu A2; 02 túi đựng ma túy và 02 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2025 giữa Công an tỉnh Hưng Yên và Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSND khu vực 1 - Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; -Phân trại tạm giam khu vực Phù Cừ; - Công an tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan Thi hành án Hình sự & Dân sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Mạnh Quyền |