vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Niên T đối với anh Võ Văn L.

Chị Lê Thị Niên T được ly hôn với anh Võ Văn L. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh L, yêu cầu giải quyết về con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Niên T đối với anh Võ Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày 31-3-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Tòng Quân.

2. Ông Nguyễn Minh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Thảo Vy là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 465/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Niên T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số A, tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Võ Văn L, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số E đường Đ, hẻm B, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2024, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Niên T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Văn L chung sống năm 2008, đến ngày 25/10/2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Vợ chồng ly thân từ năm 2017, chị về nhà chị ở huyện C sống cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Văn L.

Về con chung: có 03 con chung là Võ Lê Bích T1, sinh ngày 16/02/2009, Võ Quốc H, sinh ngày 03/8/2011 và Võ Quốc A, sinh ngày 03/8/2011. Chị đang phụ chăm sóc người thân, thu nhập bình quân khoảng 10.000.000 đồng. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, ba con chung do chị trực tiếp nuôi, anh L không cấp dưỡng để nuôi con. Chị có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ba con chung nên chị yêu cầu được nuôi ba con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.

Nợ chung: vợ chồng chị không có nợ chung.

Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Võ Văn L đến để giải quyết vụ án nhưng anh Võ Văn L đều vắng mặt không rõ lý do cũng như không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.

- Về nội dung:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T và anh L được ly hôn.

+ Về con chung: Giao ba con chung là Võ Lê Bích T1, sinh ngày 16/02/2009, Võ Quốc H, sinh ngày 03/8/2011 và Võ Quốc A, sinh ngày 03/8/2011 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con chung.

+ Về tài sản: Ghi nhận chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.

+ Nợ chung: Ghi nhận chị T trình bày không có.

+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị T là nguyên đơn, vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh L là bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, theo khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vắng mặt đương sự.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh L, yêu cầu giải quyết về con chung; anh L cư trú tại thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị T và anh L chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 25/10/2011 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L hợp pháp.

Qua lời trình bày của chị T thấy rằng: quá trình chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chị T và anh L đã sống ly thân.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh L nhiều lần nhưng anh L vắng mặt không rõ lý do và không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải để chị T, anh L có cơ hội đoàn tụ. Như vậy, có căn cứ về việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T và anh L ly hôn.

Về con chung: Chị T và anh L có 03 con chung là Võ Lê Bích T1, sinh ngày 16/02/2009, Võ Quốc H, sinh ngày 03/8/2011 và Võ Quốc A, sinh ngày 03/8/2011. Các con chung đều có nguyện vọng sống với mẹ sau ly hôn. Chị T yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu xin được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là nguyện vọng chính đáng của cha mẹ nhưng khi giao con cho người trực tiếp nuôi phải căn cứ vào nguyện vọng của con chung nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, do đó giao ba con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn, anh L không có ý kiến nên ghi nhận ý kiến của chị T.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị T là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; anh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Niên T đối với anh Võ Văn L.

Chị Lê Thị Niên T được ly hôn với anh Võ Văn L.

2. Về con chung:

Chị Lê Thị Niên T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ba con chung là Võ Lê Bích T1, sinh ngày 16/02/2009, Võ Quốc H, sinh ngày 03/8/2011 và Võ Quốc A, sinh ngày 03/8/2011. Ghi nhận chị Lê Thị Niên T không yêu cầu anh Võ Văn L cấp dưỡng cho con chung.

Sau khi ly hôn, anh Võ Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản:

Ghi nhận chị Lê Thị Niên T không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản khi ly hôn.

4. Về án phí:

Chị Lê Thị Niên T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003287 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị Lê Thị Niên T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ