- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LH"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26/8/2025 V/v: “Tranh chấp về ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, ông Nguyễn Văn Được
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 -Đồng Nai.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 192/2025/TLST-HNGĐ ngày 16/6/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16a/2025/QĐXX-ST ngày 15/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1993 (có đơn xin vắng mặt);
Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1998 (có đơn xin vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Văn C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Ngọc B đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 30 tháng 06 năm 2022 tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (Nay là phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai). Thời gian ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau, đến năm 2023 thì bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống.
Vào năm 2024 thì hai vợ chồng đi khám hiếm muộn tại Bệnh viện Từ Dũ, phát hiện ông C khó có con, nên bà B đã nhiều lần yêu cầu ly hôn. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông C yêu cầu Toà án cho ly hôn với bà Nguyễn Ngọc B.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại Bản ý kiến và đơn xin giải quyết vắng mặt Bà Nguyễn Ngọc B có ý kiến:
-Về quan hệ hôn nhân: Bà B đồng ý thuận tình ly hôn với ông C.
-Về con chung: Không có.
-Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên bà B xin vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” do ông Phạm Văn C khởi kiện. Bị đơn bà Nguyễn Ngọc B có địa chỉ Khu phố Tân Thành 4, phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9-Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông C và bà B đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đồng Nai tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông C và bà B tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và về chung sống với nhau từ năm 2022, và có làm thủ tục đăng ký kêt hôn tại UBND xã Tân Thành, thành thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (nay là phường Đồng Xoài, tỉnh Đồng Nai) vào ngày 30/06/2022. Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét tình trạng hôn nhân của ông C và bà B: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà B có xin giải quyết vắng mặt và có ý kiến: Về quan hệ hôn nhân: Bà B đồng ý thuận tình ly hôn với ông C. Về con chung: Không có con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và cùng có trách nhiệm chung với gia đình, nhưng trong cuộc sống chung của ông C và bà B có những mâu thuẫn trong gia đình, trong quá trình giải quyết bà B không có thiện chí hòa giải đoàn tụ gia đình mà có ý kiến đồng ý ly hôn với ông C và tại Toà án ông C xác định tình cảm vợ chồng đã hết. Xét thấy tình cảm của ông C và bà B không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, cho ông C được ly hôn với bà B.
[3.2]Về con chung: Do không có con chung, nên không xem xét.
[3.3]Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Ông C và bà B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí sơ thẩm: Ông C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C
[1].Về hôn nhân: Ông Phạm Văn C được ly hôn với bà Nguyễn Ngọc B;
[2]Về tài sản chung và nợ chung: Ông C, bà B không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[3]Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông C phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000596 ngày 11/6/2025 của Chi cục Thi hành án thành phố Đồng Xoài, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Đồng Nai.
[4]. Quyền kháng cáo: Ông C và bà B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: -VKSND khu vực 9-Đồng Nai; -Phòng THADS khu vực 9-Đồng Nai; -UBND phường Đồng Xoài; -Các đương sự; -Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |