vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Ánh Linh - Trần Thanh Phương"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày 11/9/2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hô ̣i đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.

Các Hô ̣i thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Thu Thảo;

Ông Phạm Văn Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 97/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ánh L, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn Phước Vĩnh, huyện P, tỉnh B (nay là xã P, Thành phố H); có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ 2, khu phố 4, thị trấn Phước Vĩnh, huyện P, tỉnh B; (nay là xã P, Thành phố H); có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ nguyên đơn bà Trương Thị Ánh L trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Trương Thị Ánh L và ông Trần Thanh P chung sống với nhau từ năm 1996, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó đến khoảng năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, không có tiếng nói chung, ông P không lo làm ăn, không phụ giúp kinh tế gia đình, bà L và ông P hiện vẫn sống chung nhà nhưng tự ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà L xin được ly hôn với ông Trần Thanh P.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là Trần Thanh Huỳnh N, sinh năm 1996 và Trần Thanh Huỳnh N1, sinh năm 2006, các con chung đã trưởng thành, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai bị đơn ông Trần Thanh P trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Trương Thị Ánh L chung sống với nhau từ năm 1997, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà L ăn chơi, bài bạc nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tuy nhiên ông P cho rằng mâu thuẫn gia đình chưa đến mức trầm trọng, nếu ly hôn thì tội cho các con nên ông không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là Trần Thanh Huỳnh N, sinh năm 1996 và Trần Thanh Huỳnh N1, sinh năm 2006, các con chung đã trưởng thành, ông P không có yêu cầu gì.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vự 19 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trương Thị Ánh L đối với ông Trần Thanh P; về con chung: Các con chung là Trần Thanh Huỳnh N, sinh năm 1996 và Trần Thanh Huỳnh N1, sinh năm 2006 đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liê ̣u có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về thủ tục tố tụng, về nội dung vụ án Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn mà bị đơn cư trú tại khu phố 4, thị trấn Phước Vĩnh, huyện P, tỉnh B (nay là xã P, Thành phố H). Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Trương Thị Ánh L, bị đơn ông Trần Thanh P có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về hôn nhân: Bà Trương Thị Ánh L và ông Trần Thanh P là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống vợ chồng với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 09/4/1997 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể tiếp tục chung sống nên bà L xin ly hôn, ông P không đồng ý ly hôn.

Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện: Bà Trương Thị Ánh L và ông Trần Thanh P chung sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, địa phương đã tiến hành hòa giải, hiện mâu thuẫn giữa bà L và ông P đã trầm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn bà L và bị đơn ông P đã trầm trọng, không còn chung sống với nhau được nữa, ông P không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp để xây dựng gia đình hạnh phúc. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, xác định nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Trần Thanh Huỳnh N, sinh năm 1996 và Trần Thanh Huỳnh N1, sinh năm 2006, các con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Ánh L đối với bị đơn ông Trần Thanh P về việc “ly hôn”.

1. Về hôn nhân: Bà Trương Thị Ánh L được ly hôn với ông Trần Thanh P.

2. Về con chung: Các con chung Trần Thanh Huỳnh N, sinh năm 1996 và Trần Thanh Huỳnh N1, sinh năm 2006 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị Ánh L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0006947 ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh B (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ