vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Đinh Thị Ngọc Á được ly hôn với anh Lê Đình D.

Về con chung: Giao cháu Lê Trọng H, sinh ngày 05/7/2015 cho anh Lê Đình D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Giao cháu Lê Công V, sinh ngày 07/5/2021 cho chị Đinh Thị Ngọc Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Á và anh D không ai yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên Tòa …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Đinh Thị Ngọc Á được ly hôn với anh Lê Đình D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/4/2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Nguyễn Xuân Nghi

2/Ông Trần Văn Phương

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thoang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Tuyết Nhi- Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Ngọc Á, sinh năm 1996

Trú tại: Thôn Q, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên

Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Đình D, sinh năm 1993

Trú tại: Thôn Q, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc Á trình bày: Vào năm 2015 chị Á và anh Lê Đình D kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống anh D cờ bạc, rượu chè về đánh đập chị Á, nhiều lần chị có khuyên bảo nhưng anh D không nghe vẫn tính nào tật đó, không thay đổi. Nay chị Á không tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh D nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Á được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Lê Công V, sinh ngày 07/5/2021 và Lê Trọng H, sinh ngày 05/7/2015. Ly hôn, chị Á xin nhận nuôi cháu H và giao cháu V cho anh D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Theo biên bản xác minh ngày 25/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện P, ông Lê D (là cha đẻ anh Lê Đình D) trình bày: Vợ chồng anh D và chị Đinh Thị Ngọc Á xảy ra mâu thuẫn cách đây 01 năm, lý do anh D chơi cờ bạc gây nợ nần nên không còn sống chung với nhau, hiện nay anh D đang làm thợ hồ ở thành phố H nhưng thường xuyên về nhà, ông D có nhận giấy triệu tập và thông báo của Tòa án gửi cho anh D về việc chị Á xin ly hôn thì ông D có thông báo cho anh D biết. Về con chung: Vợ chồng anh Duyên, chị Ánh có 02 con chung là Lê Trọng Hiếu, sinh năm 2015 và Lê Công V, sinh năm 2021, hiện nay chị Á nuôi cháu V, còn anh D nuôi cháu H.

Tòa án nhân dân huyện P đã triệu tập hợp lệ và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng chị Á và anh D đều vắng mặt (chị Á có đơn xin xét xử vắng mặt) và Tòa án đã tiến hành lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nêu quan điểm giải quyết vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Đinh Thị Ngọc Á được ly hôn với anh Lê Đình D; Về con chung: Giao cháu Lê Công V, sinh ngày 07/5/2021 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Lê Trọng H, sinh ngày 05/7/2015 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng, không ai yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên đề nghị Tòa không xét. Về tài sản chung: Chị Á không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét. Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc Á có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Lê Đình D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần (trên hai lần) để tham gia phiên toà nhưng đều vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Ngọc Á và anh Lê Đình D tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Á giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, lý do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và không còn sống chung với nhau. Tòa án nhân dân huyện P nhiều lần đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn nhưng anh D không đến Tòa để thể hiện thiện chí đoàn tụ. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Á và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Á được ly hôn anh D.

[3]Về con chung: Chị Đinh Thị Ngọc Á và anh Lê Đình D có hai con chung là Lê Trọng H, sinh ngày 05/7/2015 và Lê Công V, sinh ngày 07/5/2021 . Ly hôn, chị Á xin nhận nuôi cháu V, giao cháu H cho anh Duyên nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu V còn nhỏ và đang ở với chị Á, còn cháu H đang ở với anh D và có đơn trình bày nguyện vọng ở với ba. Do đó, để đảm bảo sự phát triển thể chất, tinh thần và ổn định cuộc sống như lâu nay nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị Á, giao cháu V cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu H cho anh Duyên trực tiếp nuôi dưỡng, chị Á và anh D không ai yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung: Chị Đinh Thị Ngọc Á không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

[5] Về án phí: Chị Đinh Thị Ngọc Á phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ-ST.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Đinh Thị Ngọc Á được ly hôn với anh Lê Đình D.

Về con chung: Giao cháu Lê Trọng H, sinh ngày 05/7/2015 cho anh Lê Đình D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Giao cháu Lê Công V, sinh ngày 07/5/2021 cho chị Đinh Thị Ngọc Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Á và anh D không ai yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau nên Tòa không xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị Đinh Thị Ngọc Á không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chị Đinh Thị Ngọc Á phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ-ST. Được khấu trừ số tiền chị Á đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005216 ngày 27/02/2025 của cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ