vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ M T đối với ông D. Văn T1.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Võ M T là người trực tiếp nuôi con chung, tên là là D M Ph, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2025; Ông D. Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông D. Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở ông T1 thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VU T-T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ M T đối với ông D. Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19-8-2025
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Hải

Bà Trần Thị Hằng Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà, Thư ký Tòa của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”, thụ lý số 145/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ M T, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Ấp 2 xã M huyện T tỉnh (nay là Ấp 2 xã M tỉnh T).

- Bị đơn: Ông D. Văn T1, sinh năm: 1996

Địa chỉ: 70 ấp N1 xã N thành phố T tỉnh L (nay là: 70 ấp N1 phường T tỉnh T)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Võ M T trình bày: Sau một năm tìm hiểu, bà và ông T1 kết hôn năm 2024. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau khi bà mang thai thì mới phát hiện ông T1 đam mê cờ bạc, gây ra nợ. Thời gian đó, do còn tình cảm và muốn giữ cha cho con nên bà đã bán một phần hai vàng cưới để trả nợ cho ông T1 một phần hai còn lại để chi phí cho việc sinh con. Thế nhưng, ông T1 lại tiếp tục cờ bạc, gây nợ. Khi bà mang thai ở tháng thứ tám, để việc sinh con được thuận tiện và tránh áp lực về việc đòi nợ của những chủ nợ của ông T1, bà về sống với mẹ ruột. Ông T1 chỉ thỉnh thoảng chở bà nội đến thăm cháu nhưng giữa bà và ông T1 không nói chuyện. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.

Về con chung, bà và ông T1 có một người con chung, tên là D.M Ph, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2025. Bà yêu cầu Tòa án cho bà trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do hoàn cảnh hiện tại, con của bà còn nhỏ nhưng ông T1 không quan tâm nên bà phải tìm việc làm để nuôi con. Việc ông T1 cố tình không tham gia tố tụng gây khó khăn cho bà vì phải đi lại nhiều lần. Bà mới tìm được việc làm nên nếu nghỉ việc thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến việc làm nên bà đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử mà không tiến hành hòa giải. Đồng thời, bà đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà để tạo điều kiện thuận lợi vì bà không muốn mất việc do nghỉ nhiều.

Bị đơn D. Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia phiên hòa giải và nguyên đơn đề nghị không hòa giải nên ngày 29 tháng 5 năm 2025, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình tố tụng.

Về nội dung, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: cho ly hôn và giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi, ông D. Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do nguyên đơn không yêu cầu; Đề nghị giải quyết các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Võ M T và ông D. Văn T1 là vợ chồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do ông T1 không quan tâm đến gia đình, tham gia cờ bạc gây nợ. Dù bà đã trả nợ cho ông nhưng ông T1 vẫn không thay đổi mà ngày càng gây nợ nhiều hơn. Không thể kéo dài tình trạng hôn nhân hiện tại, bà Võ M T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D. Văn T1. Theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh) thụ lý và giải quyết vụ án.

Theo văn bản xác minh của Công an xã Nhơn Thạnh Trung thành phố Tân An tỉnh Long An (nay là công an phường Tân An tỉnh Tây Ninh), ông D. Văn T1 đang cư trú tại 70 ấp Nhơn Trị 1 xã Nhơn Thạnh Trung thành phố Tân An tỉnh Long An. Ông D. Văn T1 đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T1 không tham gia phiên họp nên ngày 29 tháng 5 năm 2025 và bà T yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, Tòa án đã lập Biên bản về không kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được và Biên bản không tiến hành hòa giải được. Ông D. Văn T1 không tham gia phiên tòa ngày 24 tháng 7 năm 2025 và phiên tòa ngày 19 tháng 8 năm 2025. Đồng thời, bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Tây Ninh xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông D. Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, thể hiện việc bỏ mặc, không quan tâm đến hậu quả. Tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, khó có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ M T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, bà T và ông T1 có một người con chung, tên là là Dương Minh Phát, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2025. Bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung. Điều này, phù hợp với quy định, bởi con chung chưa đủ mười hai tháng tuổi. Hơn nữa, ông T1 không tham gia tố tụng nên không xác định được ý kiến của ông về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Do đó, việc giao con chung cho bà Võ M T trực tiếp nuôi là có căn cứ và đảm bảo quyền lợi cho con chung. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, do bà T không yêu cầu nên ông D. Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung, do không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí: Bà Võ M T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ M T đối với ông D. Văn T1.

Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Võ M T là người trực tiếp nuôi con chung, tên là là D M Ph, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2025; Ông D. Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông D. Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở ông T1 thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, một hoặc hai bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định

Về án phí: Bà Võ M T chiu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Võ M T đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000001 ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An tỉnh Long An, nay là Phòng Thi hành Khu vực 1 - Tây Ninh) thành án phí sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Võ M T, bị đơn D. Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết ban án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ