- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST Ngày 03-4-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Bình,
2. Ông Vũ Đức Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 19xx, nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị T và anh Vũ Văn C tự nguyện kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Đ ngày 12/4/2018. Quá trình chung sống, anh chị sống hạnh P đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh P. Do mâu thuẫn căng thẳng anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2021 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, chị T yêu cầu ly hôn anh C. Chị T và anh C có 01 con chung là Vũ Xuân P, sinh ngày 20/11/2019. Kể từ khi ly thân, con chung do anh C và gia đình anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Do cháu đang sinh hoạt, học tập ổn định với gia đình anh C nên khi ly hôn, chị T đề nghị Toà án giao con chung của anh chị cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con, chị T tự thoả thuận với anh C, không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung.
Tại Biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Vũ Văn C trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn tình trạng hôn nhân như nội dung chị T trình bày là đúng. Anh chị sống hạnh P được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 6 năm 2021 đến nay anh chị sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay chị T yêu cầu được ly hôn, anh C cũng đồng ý ly hôn. Anh chị có 01 con chung như chị T trình bày. Khi ly hôn, anh C đồng ý nhận trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung, anh C tự thoả thuận với chị T, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Anh C và chị T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đông Hưng theo quy định pháp luật. Anh C, chị T sống hạnh P đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm. Anh chị sống ly thân nhau từ giữa năm 2021 đến nay, không quan tâm đến nhau. Anh chị có 01 con chung; kể từ khi anh chị sống ly thân, con chung do anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tốt.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có văn bản thể hiện việc thay đổi ý kiến.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, mở phiên họp, hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên hòa giải, phiên tòa là thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Văn C; giao con Vũ Xuân P, sinh ngày 20/11/2019 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung, anh chị không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; anh Vũ Văn C là bị đơn, hiện đang cư trú tại: Thôn Trung Hưng, xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn (chị T) vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn (anh C) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị T, anh C.
- Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Văn C được xác lập từ ngày 12 tháng 4 năm 2018 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cãi nhau, hôn nhân không hạnh P. Do mâu thuẫn căng thẳng, anh chị sống ly thân từ giữa năm 2021 đến nay, không quan tâm đến nhau. Như vậy, có đủ căn cứ xác định, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và ý chí của anh C nên cần được chấp nhận, xử cho chị T được ly hôn anh C.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Vũ Xuân P, sinh ngày 20/11/2019. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay, con chung do anh C trực tiếp nuôi dưỡng; cháu P hiện đang sinh hoạt, học tập ổn định cùng gia đình anh C. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không tranh chấp về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Do đó để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con sau khi bố mẹ ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T: Giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng cho con: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết, tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Văn C.
2. Về con chung: Giao con chung giao con Vũ Xuân P, sinh ngày 20/11/2019 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 03/4/2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con do các đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0009104 ngày 01 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Tiên Lãng; - Đương sự (để thi hành); - Chi cục THADS huyệnTiên Lãng; - UBND xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng (ĐKKH số 28/2018); - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Huyền Trang |