vanban.org

Bản án 22/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị Ch đối với anh Lường Văn M.

Xử cho chị Lò Thị Ch được ly hôn với anh Lường Văn M. Về con Ch: Giao con Ch là Lường Hải Đ, sinh ngày 06/11/2016 cho chị Lò Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến 18 tuổi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA LY HÔN LÒ THỊ CH - LƯỜNG VĂN MINH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị Ch đối với anh Lường Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình xác định mâu thuẫn; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 22/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 03 - 2025
V/v: Ly hôn, nuôi con Ch

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lô Văn Long.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Cương.

2. Ông Lò Văn Thôn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quang Hùng – Thư ký tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Quàng Văn Cuộc - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc: Xin ly hôn, nuôi con Ch theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXX-ST, ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 18/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lò Thị Ch, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Bản Co Tr, xã Mường H, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, (vắng mặt).

Bị đơn: Anh Lường Văn M, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Bản Co Tr, xã Mường H, huyện Sông M, tỉnh Sơn La, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 10/11/2024 và bản tự khai ngày 22/11/2024 nguyên đơn chị Lò Thị Ch trình bày:

Chị Lò Thị Ch và anh Lường Văn M qua thời gian tìm hiểu kết hôn với nhau từ ngày 06/01/2017 trên cơ sở hai bên cùng tự nguyện, không có sự ép buộc, có Đ ký kết hôn tại UBND xã Mường H, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Việc kết hôn được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn anh chị Ch sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì sảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong quá trình Ch sống tính tình không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói Ch trong cuộc sống gia đình. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân được 01 năm, chị Ch xét thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục cuộc hôn nhân với anh M được nữa nên chị Ch đề nghị xin được ly hôn.

Về con Ch: Vợ chồng có 02 con Ch là Lường Anh Th, sinh ngày 01/7/2014 và Lường Hải Đ, sinh ngày 06/11/2016. Nếu ly hôn chị Ch có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc con nhỏ là Lường Hải Đ, con lớn là Lường Anh Th chị Ch sẽ giao cho anh M nuôi dưỡng, chăm sóc và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản Ch: Không kê khai, không đề nghị tòa án giải quyết.

Về nợ Ch: Vợ chồng không có khoản nợ Ch nào.

Đối với nguyên đơn Lò Thị Ch: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các chứng cứ, có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập, sau đó có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn Lường Văn M: Trong quá trình giải quyết vụ án anh M không hợp tác để giải quyết, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần và trực tiếp lập biên bản niên yết tại địa phương nhưng anh M vẫn không có mặt tại Tòa án để làm việc, vì vậy Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng; Quá trình xét xử Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Pháp luật và các thủ tục. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ thời điểm thụ lý vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Thị M được ly hôn với anh Lường Văn M.

- Về con Ch: Giao con Ch là Lường Hải Đ, sinh ngày 06/11/2016 cho chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao con Ch là Lường Anh Th, sinh ngày 01/7/2014 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

- Về tài sản Ch: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị miễn phí ly hôn cho chị Lò Thị Ch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên tài liệu hồ sơ vụ án, kết quả tại biên bản tiến hành hòa giải một bên, các chứng cứ đã thu thập. Hội đồng xét xử nhận thấy;

Về thẩm quyền tố tụng: Bị đơn Lường Văn M có hộ khẩu thường trú tại bản Co Tr, xã Mường H, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La được Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn: Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần và trực tiếp lập biên bản niên yết tại địa phương, cũng như giao câc văn bản cho anh M nhưng anh M vẫn vắng mặt không có lý do. Từ nhận định trên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị Ch kết hôn với anh Lường Văn M trên cơ sở tự nguyện và có Đ ký kết hôn tại UBND xã Mường H, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình Ch sống trên cơ sở tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thấy: Trong thời gian Ch sống chị Ch và anh M sống không hạnh phúc trong cuộc sống luôn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình xác định mâu thuẫn của chị Ch và anh M đã trầm trọng, đời sống Ch không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Ch xin ly hôn với anh M là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con Ch: Vợ chồng có 02 con Ch là Lường Anh Th, sinh ngày 01/7/2014 và Lường Hải Đ, sinh ngày 06/11/2016. Nếu ly hôn chị Ch có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc con nhỏ là Lường Hải Đ, con lớn là Lường Anh Th chị Ch sẽ giao cho anh M nuôi dưỡng, chăm sóc và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của của các con và theo lời khai của chị Ch trình bày từ khi vợ chồng sống ly thân thì con nhỏ là Lường Hải Đ theo ở cùng mẹ, con lớn là Lường Anh Th theo ở cùng bố.

Về tài sản Ch: Không kê khai, không đề nghị giải quyết trong vụ án này.

Về nợ Ch: Không có.

Về án phí: Đương sự là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị Ch đối với anh Lường Văn M.

Xử cho chị Lò Thị Ch được ly hôn với anh Lường Văn M.

2. Về con Ch: Giao con Ch là Lường Hải Đ, sinh ngày 06/11/2016 cho chị Lò Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến 18 tuổi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Giao con Ch là Lường Anh Th, sinh ngày 01/7/2014 cho anh Lường Văn M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến 18 tuổi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Chị Lò Thị Ch và anh Lường Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, nhưng được quyền đi lại thăm nom, giáo dục các con không ai được cản trở.

3. Về tài sản Ch: Không kê khai, không đề nghị giải quyết trong vụ án này.

4. Về nợ Ch: Không có.

5. Về án phí: Chị Lò Thị Ch được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ