- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án dân sự giữa nguyên đơn Tràn Thị Thanh T và bị đơn Lý Thị Thu Đ, Nguyễn Hoàng L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L phải trả một lần cho bà Trần Thị Thùy T số tiền 95.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2025/DS-ST Ngày: 25/8/2025 V/v: “Tranh chấp họ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - KHÁNH HOÀ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Dư
2. Ông Nguyễn Lai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 25/8/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 62/2025/TLST-DS ngày 24/4/2025 về “Tranh chấp họ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-DS ngày 01/8/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy T – Sinh năm: 1984
Địa chỉ: thôn C, xã C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
* Bị đơn:
- Bà Lý Thị Thu Đ – Sinh năm: 1986
Địa chỉ: thôn C, xã C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
- Ông Nguyễn Hoàng L - Sinh năm: 1975
Địa chỉ: thôn C, xã C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2025, bản tự khai ngày 23/5/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Thùy T trình bày: Bà T là chủ cái huê. Ngày 10/01/2023, bà T có mở một dây huê 5.000.000 đồng/chân gồm 13 phần huê, kết thúc vào ngày 10/01/2024. Bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L tham gia 01 phần. Do thỏa thuận ai bỏ cao sẽ được ưu tiên hốt trước. Ngày 10/01/2023, bà Đ, ông L bỏ hốt thành công với số tiền 46.500.000 đồng. Bà Đ có ký nhận tiền.
Ngày 01/02/2023, bà T mở tiếp một dây huê mới 5.000.000 đồng/chân gồm 13 phần huê, kết thúc vào ngày 01/02/2024. Bà Đ và ông L tham gia 01 phần. Ngày 01/3/2023, bà Đ, ông L bỏ huê cao và hốt thành công với số tiền 47.500.000 đồng. Bà Đ có ký nhận tiền.
Theo thỏa thuận giữa những người tham gia thì sau khi hốt huê thì người hốt phải đóng huê chết mỗi dây huê là 5.000.000 đồng/tháng. Cả hai dây huê bà Đ, ông L phải đóng tiền lãi là 8.250.000 đồng được chia đều cho những người tham gia.
Sau khi hốt huê, bà Đ, ông L đã đóng tiền huê cho bà T được 19.450.000 đồng và còn nợ lại 95.550.000 đồng. Do bà T là chủ cái huê nên bà phải ứng tiền trả cho những người tham gia còn lại. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đ và ông L phải trả cho bà một lần số tiền huê còn nợ là 95.550.000 đồng.
Trong các bản tự khai đề ngày 30/5/2025, các biên bản lấy lới khai ngày 31/5/2025 và tại phiên tòa, bị đơn bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L trình bày: Vào năm 2023, vợ chồng bà Đ, ông L có tham gia 02 dây huê do bà Trần Thị Thùy T làm chủ cái. Mỗi dây huê có 13 phần, mỗi phần đóng 5.000.000 đồng/tháng. Dây thứ nhất bà Đ, ông L hốt được 46.500.000 đồng và dây thứ hai cũng hốt được 47.500.000 đồng. Do làm ăn thua lỗ nên bà Đ, ông L đóng huê chết được vài tháng thì không đóng được nữa. Sau đó hai bên có chốt lại tiền nợ huê thì vợ chồng bà Đ, ông L vẫn còn nợ bà T 95.550.000 đồng. Bà Đ, ông L đồng ý trả tiền nợ huê cho bà T nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L phải trả cho bà Trần Thị Thùy T số tiền họ còn nợ là 95.550.000 đồng. Bà Đ, ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Bà Trần Thị Thùy T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa giải quyết buộc bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L phải trả số tiền số tiền họ còn nợ, đây là quan hệ tranh chấp họ. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Khánh Hòa) đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị đơn bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L thừa nhận năm 2023 vợ chồng ông có tham gia chơi họ do bà Trần Thị Thùy T là chủ cái. Dây thứ nhất bà Đ, ông L hốt được 46.500.000 đồng và dây thứ hai cũng hốt được 47.500.000 đồng. Bà Đ, ông L đồng ý trả cho bà T số tiền 95.550.000 đồng và xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng nhưng bà T không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Đ, ông L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ họ cho bà T là xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của bà T. Vì vậy, cần căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bà Đ, ông L phải thực hiện nghĩa vụ trả một lần cho bà T số tiền 95.550.000 đồng.
Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; án phí bà Đ, ông L phải chịu là: 95.550.000 đồng x 5% = 4.777.500 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L phải trả một lần cho bà Trần Thị Thùy T số tiền 95.550.000 đồng (Chín mươi lăm triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng).
2. Về án phí: Bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L phải chịu 4.777.500 đồng (Bốn triệu, bảy trăm bảy mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho bà Trần Thị Thùy T 2.389.000 đồng (Hai triệu, ba trăm tám mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008421 ngày 21/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm (Nay thuộc Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).
3. Quy định: Kể từ ngày bà Trần Thị Thùy T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Lý Thị Thu Đ và ông Nguyễn Hoàng L chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn bà Trần Thị Thùy T và bị đơn Lý Thị Thu Đ, ông Nguyễn Hoàng L có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 2 - Khánh Hòa; - Cơ quan THADS tỉnh Khánh Hòa; - Các đương sự ; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoài Tâm |