- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty T- Mai Thị Thanh H (T/c hợp đồng tín dụng)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 22/2025/DS-ST Ngày: 15/4/2025. V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thu Phương. Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Thị Mộng Thu.
2/ Ông Phạm Hồng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyến - Kiểm sát viên.
Ngày 15/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 421/2024/TLST-DS ngày 16/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-DS ngày 06/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-DS ngày 26/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam); Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H – Chức vụ: Tổng Giám đốc (Vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền: 1/ Ông Trần La Ngọc H1 – chức vụ: Trưởng phòng tố tụng Cấp cao, Công ty T. (Vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Công ty L1
Địa chỉ: B L, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H2 – chức vụ: Giám đốc Công ty L1 (Vắng mặt)
Ông H2 ủy quyền lại cho: Ông Võ Bá L, sinh năm 2002- Chức danh: Nhân viên. (Vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: B L, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Mai Thị Thanh H3, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: E, tổ B, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) là ông Võ Bá L trình bày: Ngày 17/05/2023, Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là “Công ty T”) ký Hợp đồng tín dụng số: 4627151 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”) về việc cấp tín dụng cho bà Mai Thị Thanh H3 với khoản vay trị giá 37.695.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng), trong đó bao gồm: 35.000.000 đồng tiền vay và 2.695.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay. Mục đích vay để tiêu dùng cá nhân; hình thức vay tín chấp và không có tài sản bảo đảm. Lãi suất vay: 58%/năm. Thời hạn vay là 30 tháng tính từ ngày 10/06/2023 đến ngày 10/11/2025. Sau khi ký kết, vào ngày 18/05/2023 Công ty T đã tiến hành giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Mai Thị Thanh H3 với hình thức chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng mà bà Mai Thị Thanh H3 đã cung cấp. Qua đó, bà Mai Thị Thanh H3 có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền hàng tháng cho phía Công ty T theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng trên vào ngày 10 hàng tháng. Tuy nhiên, từ ngày 01/02/2024, bà Mai Thị Thanh H3 đã ngừng thanh toán khoản vay cho phía Công ty T mặc dù phía Công ty đã nhiều lần nhắc nhở cũng như gọi điện liên hệ để đề nghị bà Mai Thị Thanh H3 thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình nhưng không nhận được bất kỳ phản hồi tích cực nào từ phía bà Mai Thị Thanh H3 về việc thanh toán khoản vay đã quá hạn trên. Tính đến thời điểm hiện tại, bà Mai Thị Thanh H3 chỉ thanh toán được 08 kỳ với tổng số tiền 20.038.879 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, tám trăm bảy mươi chín đồng). Trong đó bao gồm: 4.995.611 đồng tiền gốc; 14.887.655 đồng tiền lãi; 96.000 đồng tiền phí thu hộ (lịch sử thanh toán được thể hiện cụ thể tại Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng). Việc bà Mai Thị Thanh H3 cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay theo thỏa thuận trong “Hợp đồng tín dụng” mà đôi bên ký kết đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T. Tính đến ngày 15/4/2025, bà Mai Thị Thanh H3 đã trễ hạn, không thanh toán các khoản tiền như sau:
- Số nợ gốc còn lại chưa thanh toán (số tiền gốc phải thanh toán): 32.699.389 đồng. Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (số tiền lãi chưa trả tính từ kỳ 9 đến kỳ 23, chi tiết tại bảng Báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng): 18.241.325 đồng.
- Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (150% x lãi suất năm x số tiền gốc phải trả mỗi kỳ x số ngày trễ hạn /365 ngày): 8.399.133 đồng.
- Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (10% x số tiền lãi phải thanh toán mỗi kỳ x số ngày trễ hạn /365 ngày): 1.221.995 đồng. Nay Công ty T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Mai Thị Thanh H3 phải thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi, phí) tính đến ngày 15/4/2025 với tổng số tiền là 54.512.425 đồng và lãi phát sinh từ sau ngày 16/4/2025 đến khi hoàn tất việc thanh toán theo nội dung Hợp đồng tín dụng số 4627151 ngày 17/5/2023. Bị đơn bà Mai Thị Thanh H3 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, tại phiên tòa bà H3 vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án:
Về thủ tục tố tụng: thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định về tố tụng. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Mai Thị Thanh H3 phải thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T (Việt Nam) (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi, phí) tính đến ngày 15/4/2025 với tổng số tiền là 54.512.425 đồng và lãi phát sinh từ sau ngày 16/4/2025 đến khi hoàn tất việc thanh toán theo nội dung Hợp đồng tín dụng số 4627151 ngày 17/5/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) với bị đơn bà Mai Thị Thanh H3 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) và người đại diện theo ủy quyền đều vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt; Bị đơn bà Mai Thị Thanh H3 vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung vụ án: xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy, ngày 17/05/2023, Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là “Công ty T”) ký Hợp đồng tín dụng số: 4627151 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng tín dụng”) về việc cấp tín dụng cho bà Mai Thị Thanh H3 với khoản vay trị giá 37.695.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng), trong đó bao gồm: 35.000.000 đồng tiền vay và 2.695.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay. Mục đích vay để tiêu dùng cá nhân; hình thức vay tín chấp và không có tài sản bảo đảm. Lãi suất vay: 58%/năm. Thời hạn vay là 30 tháng tính từ ngày 10/06/2023 đến ngày 10/11/2025. Sau khi ký kết, vào ngày 18/05/2023 Công ty T đã tiến hành giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Mai Thị Thanh H3 với hình thức chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng mà bà Mai Thị Thanh H3 đã cung cấp. Qua đó, bà Mai Thị Thanh H3 có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền hàng tháng cho phía Công ty T theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng trên vào ngày 10 hàng tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Mai Thị Thanh H3 chỉ thanh toán được 08 kỳ với tổng số tiền 20.038.879 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu, không trăm ba mươi tám nghìn, tám trăm bảy mươi chín đồng). Trong đó bao gồm: 4.995.611 đồng tiền gốc; 14.887.655 đồng tiền lãi; 96.000 đồng tiền phí thu hộ (lịch sử thanh toán được thể hiện cụ thể tại Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng). Từ ngày 01/02/2024, bà Mai Thị Thanh H3 đã vi phạm hợp đồng, không trả tiền gốc và lãi cho Công ty theo đúng cam kết. Hiện nay qua xác minh bà Mai Thị Thanh H3 đã bỏ đi khỏi địa phương. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bà H3 theo quy định, tuy nhiên bà H3 không tới Tòa án làm việc, không chứng minh được đã hoàn trả các khoản nợ cho Công ty T. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T, buộc bà Mai Thị Thanh H3 phải trả cho Công ty T (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi, phí) tính đến ngày 15/4/2025 với tổng số tiền là 54.512.425 đồng và lãi phát sinh từ sau ngày 16/4/2025 đến khi hoàn tất việc thanh toán theo nội dung Hợp đồng tín dụng số 4627151 ngày 17/5/2023.
[3] Về án phí: Bà Mai Thị Thanh H3 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật là 2.725.621đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26; 227 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 463, 464, 465, 466, 467, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T (VIỆT NAM) đối với bà Mai Thị Thanh H3 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bà Mai Thị Thanh H3 có nghĩa vụ trả cho Công ty T (VIỆT NAM) số tiền nợ tính đến ngày 15/4/2025 là 54.512.425đồng (Trong đó: Số tiền nợ gốc: 32.699.389đồng; Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán 18.241.325đồng; Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn 8.399.133đồng; Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán 1.221.995 đồng) và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày ngày 16/4/2025 đến khi hoàn tất việc thanh toán theo nội dung Hợp đồng tín dụng số 4627151 ngày 17/5/2023.
2. Về án phí: + bà Mai Thị Thanh H3 phải nộp 2.725.621đồng (Hai triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn sáu trăm hai mươi mốt đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
+ Hoàn trả cho Công ty T (VIỆT NAM) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.031.405đ (Một triệu không trăm ba mươi mốt ngàn bốn trăm lẻ năm đồng) theo biên lai thu tiền số 0003987 ngày 09/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 15/4/2025, các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Đất; - Chi cục THA dân sự H. Long Đất; - Đương sự;- Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phan Thu Phương |