- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn Sơn - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 125, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HSST Ngày 06/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Phú, bà Nguyễn Thị Bích Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện VKSND thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 209/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024, đối với:
* Bị cáo: Cao Văn S, sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không;
Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Cao Đức N và bà Bùi Thị T; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn; Vợ: Nguyễn Thị Vân A; Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm di khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).
* Bị hại: Ông Nguyễn Kim N1, sinh năm 1940 (đã chết).
* Người đại diện theo pháp luật cho bị hại: + Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1947- vợ bị hại;
+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977- con bị hại;
+ Anh Nguyễn Thanh N3, sinh năm 1984- con bị hại;
Đều cư trú: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương.
+ Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970- con bị hại; Cư trú: Số A đường số A, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị H, anh N3 và chị H1: Bà Nguyễn Thị N2- vợ bị hại. (Đều vắng mặt). *Người làm chứng: Anh Nguyễn Trọng T1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Văn S có giấy phép lái xe ô tô hạng A1, C số 300153004541 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 20/4/2021, có giá trị đến ngày 20/4/2026. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/8/2023, S điều khiển xe ô tô biển số 34A – 389.66 đi từ huyện T đến thành phố H. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, S điều khiển xe trên đường N hướng ngã tư M đi khách sạn N5 với tốc độ khoảng 50 Km/h đến khu vực giao nhau giữa đường N với đường H thuộc địa phận phường V, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Tại đây, mặt đường rộng 13,5m được phân chia thành 4 làn đường bằng, vạch sơn màu trắng nét đứt. Tiếp giáp với phía phải của hiện trường là vỉa hè đường và lối mở vào cổng xí nghiệp Ô. Tiếp giáp với phía trái của hiện trường là dải phân cách trung tâm rộng 3m phân chia đường N thành hai chiều đường riêng biệt; lối mở chuyển chiều đường rộng 55m và tại hai đầu của lối mở có biển báo hiệu “Cấm các phương tiện đi ngược chiều”. S điều khiển xe đi ở làn đường sát với dải phân cách trung tâm, do không chú ý quan sát và giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức nên đã để phần đầu xe phía trước bên phải xe ô tô do S điều khiển va chạm vào bên trái xe đạp do ông Nguyễn Kinh N4, sinh năm 1940, ở thôn P, xã C, huyện C điều khiển phía trước cùng chiều chuyển hướng rẽ trái sang đường hất ông N4 lên trên nắp ca pô rồi rơi xuống đường, xe đạp bị đổ về phía khách sạn N5, để lại trên mặt đường N vết cà trượt hình vòng cung kéo theo bột đá đường màu trắng kích thước (15,4x0,02)m. S dừng xe xuống thấy ông N4 nằm ngã, phần đỉnh đầu bên phải chảy máu, chân trái bị xây xước nên nhờ người trình báo cơ quan công an rồi đưa ông N4 vào Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu. Đến khoảng 16h40’ ngày 03/8/2023, ông Nguyễn Kinh N4 tử vong do chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ), xe ô tô biển số 34A – 389.66 và xe đạp bị hư hỏng nhẹ.
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và xét nghiệm ma tuý ngày 03/8/2023 đối với Cao Văn S, xác định: không có nồng độ cồn trong hơi thở và không có chất ma tuý trong nước tiểu.
Ngày 03/8/2023 Cao Văn S cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H 01 video clip ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông được thu thập từ camera giám sát hành trình xe ô tô BKS 34A-389.66. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định hình ảnh. Kết luận giám định số 5835 ngày 20/9/2023 của V - Bộ C1 đối với 01 tệp video gửi giám định: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các mẫu cần giám định.
Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi ông Nguyễn Kinh N4 số 276/GĐPY ngày 14/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
- Các kết quả chính:Tử thi hai mắt nhắm, đồng tử hai mắt giãn rộng, kết mạc hai mắt nhợt. Bầm tụ máu mắt phải. Niêm mạc môi trên nhợt. Răng hàm trên khuyết số 2, 3, 5, 6, 7, 8 khuyết cũ bên trái. Răng hàm dưới còn lại răng số 3, 4 bên trái. Tổ chức dưới da và cơ vùng chẩm phải ngấm máu. Xương sọ tại vị trí có diện vỡ lún. Sây sát da rải rác toàn thân.
- Kết luận: Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ). Cơ chế hình thành dấu vết trên cơ thể nạn nhân: Nguyên nhân chính dẫn đến tử vong là chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ) do vật tày gây lên có hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong là phù hợp.
Khám nghiệm dấu vết xe ô tô biển số 34A- 389.66 xác định: Tại mặt ngoài góc chắn đà phía trước đầu xe bên phải có vết va chạm trượt xước lớp sơn màu trắng, tại mặt vết còn dính tạp chất dạng sơn màu đỏ, vết có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải; điểm tập trung trong diện 22x11cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 45cm; cao nhất cách mặt đất 62cm. Chắn đà bị gãy chân bắt giữ, bật hở khớp nối. Tại mặt ngoài nắp capo phía trước bên phải có vết va chạm bẹp kim loại theo chiều từ trước về sau diện 20x12cm; thấp nhất cách mặt đất 80cm; cao nhất cách mặt đất 82cm. Kính chắn gió phía trước bên phải có vết va chạm nứt hình mạng nhện; vết có chiều từ trước về sau, từ ngoài vào trong; điểm tập trung trong diện 87x84cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: xe lắp đủ, có hiệu lực.
Khám nghiệm xe đạp kiểu dáng mini số khung Y4094041 xác định: Tại mặt ngoài thanh kim loại bắt giữ trục bánh sau bên trái có vết va chạm trượt xước lớp gỉ sét màu nâu, tại mặt vết còn dính bột dạng sơn màu trắng, vết có chiều từ sau về trước, điểm tập trung trong diện 3,5x1 cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 30cm, cao nhất cách mặt đất 31cm. Tại mặt ngoài đầu chắn bùn, bánh sau bên trái có vết va chạm xước nhẹ kim loại, tại mặt vết còn dính bột dạng sơn màu trắng, vết có chiều từ sau về trước diện 1x1 cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 39 cm; cao nhất cách mặt đất 40cm. Tại mặt ngoài khung xe bên trái có vết va chạm cong kim loại theo chiều từ sau về trước, từ trái qua phải lệch so với vị trí ban đầu 5 cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 44cm; cao nhất cách mặt đất 48cm. Đầu bàn đạp bên phải có vết mài xước nhựa diện 3x2,5cm. Đầu tay phanh bên phải có vết mài mòn nhựa còn dính bột đá đường màu trắng diện 1x1 cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện: xe lắp đủ, có hiệu lực.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cao Văn S đã bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, tiền sửa chữa phương tiện cùng toàn bộ chi phí liên quan với tổng số tiền 150.000.000 đồng cho gia đình ông Nguyễn Kinh N4, những người đại diện theo pháp luật của ông N4 đã nhận đủ số tiền bồi thường và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Cao Văn S.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại chiếc xe đạp cho đại diện gia đình ông Nguyễn Kinh N4; trả lại xe ô tô biển số 34A-389.66 cho Cao Văn S. Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô số 300153004541 của Cao Văn S được quản lý trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSTPHD ngày 21/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Cao Văn Sơn về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự (viết tắt BLHS).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi như tại giai đoạn điều tra và truy tố. Bị cáo không bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện VKSND thành phố Hải Dương tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Cao Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe ô tôvà trả giấy phép lái xe cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, không đặt ra xem xét giải quyết do các bên đã tự thoả thuận. Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về nội dung này.
- Đại diện hợp pháp của bị hại đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lý do. Xét sự vắng mặt này của họ không trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại.
. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Cao Văn S khai nhận hành vi phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, phù hợp với biên bản khám nghiệp tử thi, các kết luận giám định, biên bản giải trình hình ảnh camera, vật chứng đã thu giữ; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 03/8/2023, tại đường N đoạn giao với đường H thuộc địa phận phường V, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Cao Văn S có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô biển số 34A – 389.66 hướng ngã tư M đi khách sạn N5, do không chú ý quan sát và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức nên đã để phần đầu phía trước bên phải xe ô tô do S điều khiển va chạm vào bên trái xe đạp do ông Nguyễn Kinh N4 điều khiển phía trước cùng chiều chuyển hướng sang đường làm ông N4 bị hất lên nắp ca pô rồi rơi xuống đường. Hậu quả ông Nguyễn Kinh N4 bị thương được đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu, tử vong lúc 16h40’ cùng ngày do chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ).
Hành vi trên của Cao Văn S đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ (hướng dẫn tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G) là nguyên nhân xảy ra tai nạn, gây hậu quả làm chết một người. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách hiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý. Nên bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. VKSND thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền là 150 triệu đồng, gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiễm hình sự cho bị cáo. Trong vụ án này ông Nguyễn Kinh N4 điều khiển xe đạp chuyển hướng sang đường không đảm bảo an toàn nên có lỗi một phần để xảy ra tai nạn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 BLHS áp dụng cho bị cáo.
. Về hình phạt chính: Xét vụ án có một phần lỗi của người bị hại. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú ổn định và rõ ràng. Vì vậy, HĐXX xét không cần thiết bắt bị cáo cải tạo tại trại giam, cho bị cáo hưởng hình phạt tù có điều kiện cũng tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Do bị cáo được áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo nên huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động chính trong gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo lái xe. Giấy phép lái xe trả lại cho bị cáo ngay sau khi phiên tòa kết thúc.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường, bị cáo đã bồi thường tổng số tiền 150.000.000đ, đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên. Đến nay hai bên đều không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
. Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại chiếc xe đạp cho đại diện gia đình ông Nguyễn Kinh N4; trả lại xe ô tô biển số 34A-389.66 cho Cao Văn S nên không đặt ra xem xét giải quyết.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải trả án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 125, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng của án phí, lệ phí Tòa án.
[2]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[3]. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Cao Văn S 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Cao Văn S cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú với Cao Văn S.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Trả lại cho bị cáo Cao Văn S 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1, C số 300153004541 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 20/4/2021 mang tên Cao Văn S ngay sau khi phiên tòa kết thúc. [5]. Về án phí: Bị cáo Cao Văn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Dương; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Dương; - Cơ quan THAHS Công an TP. Hải Dương; - Bộ phận Hồ sơ nghiệp vụ Công an TP. Hải Dương; - Chi cục THADS TP. Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu Toà; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Hà |