- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hà Văn C và Dương Quang C1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NC1 DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HSST Ngày 05/4/2024 |
NC1 DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NC1 DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Lực.
Các Hội thẩm nC1 dân: Bà Nguyễn Thị Phương Lan và ông Lê Thanh Thu
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Anh, Thư ký Tòa án nC1 dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nC1 dân huyện Y tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 05/4/2024 tại trụ sở Tòa án nC1 dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 15/3/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 22/3/2024 đối với các bị cáo:
1. Hà Văn C sinh năm 1983; tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú xóm 8, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Huy T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ Nguyễn Thị H và có 03 con. Tiền án không; tiền sự không. Lịch sử bản tC1 ngày 16/12/2017 bị Công an huyện Y xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2. Dương Quang C1 sinh năm 1984; tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú xóm 8, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình H và bà Hà Thị Th; vợ Nguyễn Thị H và có 02 con. Tiền án không, tiền sự không; Lịch sử bản tC1 ngày 16/12/2017 bị Công an huyện Y xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nợi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/12/2023 Công an xã K nhận được đơn tố giác của quần chúng nC1 dân về việc C bán số Lô, số Đề trái phép cho người nào đến mua và qua tin nhắn mạng xã hội Zalo bằng điện thoại di động. Cùng ngày Công an xã K triệu tập C lên làm việc thì C thừa nhận đã bán số Lô, số Đề trái phép cho C1 và giao nộp 01 điện thoại OPPO A12 lắp 02 sim thuê bao là số 0914753038 và số 0972861797. Kiểm tra tin nhắn Zalo trên điện thoại của C giao nộp, Công an xã xác định C bán số Lô, số Đề cho C1 vào ngày 29/12/2023, triệu tập C1 lên làm việc, C1 thừa nhận có mua số Lô, số Đề của C và tự nguyện giao nộp điện thoại Iphone Xs Max lắp sim thuê bao số 0977545383 mà C1 sử dụng để nhắn tin mua số Lô, số Đề với C. Công an xã đã tiến hành lập biên bản làm việc, niêm phong 02 điện thoại và chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu, đồ vật thu giữ đến Cơ quan điều tra Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định: Lợi dụng việc ký hợp đồng bán xổ số Lô tô, Xổ số kiến thiết với Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình, C có bán số Lô, số Đề trái phép cho C1 và quy định tỷ lệ được thua như sau:
- Đề 2 số: Là cặp số gồm 2 số, đối chiếu với 2 số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiến Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, khi trúng thưởng sẽ được trả theo tỉ lệ 1: 88 lần (tức là 1.000 đồng được 88.000 đồng);
- Lô Ninh Bình: C bán cho C1 với giá 20.000 đồng/01 điểm, đối chiếu với 02 số cuối của 27 giải, cứ mỗi 01 điểm trúng thưởng được số tiền 70.000 đồng.
Hồi 17 giờ 26 phút ngày 11/12/2023 C đăng nhập tài khoản “Trung123” đăng ký bằng số điện thoại 0914753038 trên điện thoại OPPO A12 để nhắn tin bán số Lô, số Đề; C1 đăng nhập tài khoản “DuongHan” đăng ký bằng số điện thoại 0977545383 trên điện thoại Iphone Xs Max mua các số Lô, số Đề, cụ thể như sau:
- Lô Ninh Bình gồm các số “16, 07, 38” mỗi số 10 điểm; các số “33, 18” mỗi số 05 điểm; tổng là 40 điểm tương ứng số tiền là 800.000 đồng. Đối chiếu với Kết quả xổ số kiến thiết Miền bắc mở thưởng cùng ngày, C1 trúng thưởng các số Lô “07, 33, 18” và “38” (02 lần); số tiền C1 trúng thưởng là 2.800.000 đồng.
- Đề hai số gồm các số “07, 37, 36, 38, 34, 35, 33” mỗi số 10.000 đồng, số “31” là 30.000 đồng; các số “30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39” mỗi số 5.000 đồng; tổng số tiền C1 mua số Đề của C là 150.000 đồng. Đối chiếu với Kết quả xổ số kiến thiết Miền bắc mở thưởng cùng ngày, C1 trúng thưởng số Đề “38” với số tiền là 1.320.000 đồng.
Như vậy, số tiền C1 mua số Lô, số Đề là 950.000 đồng, số tiền C trả thưởng số Lô, số Đề là 4.120.000 đồng; tổng cộng là 5.070.000 đồng. C và C1 đã thanh toán tiền mua, bán số Lô, số Đề và trúng thưởng cho nhau.
Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nC1 dân huyện Y truy tố các bị cáo C và C1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày Luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố các bị cáo C và C1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo C từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; xử phạt bị cáo C1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại OPPO A12 của C; 01 điện thoại Iphone Xs Max của C1 và số tiền sử dụng đánh bạc là 5.070.000 đồng; riêng 03 chiếc sim điện thoại thì tịch thu tiêu huỷ.
- Các bị cáo C và C1 phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo C và C1 đều khai nhận, ngày 11/12/2023 C và C1 có mua bán số Lô, số Đề với nhau với tổng số tiền mua, bán và trúng thưởng là 5.070.000 đồng. Nói lời sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, hành vi của các bị cáo và vật chứng đã thu giữ, nên có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 11/12/2023 C1 mua số Lô, số Đề của C với số tiền là 950.000 đồng; C1 trúng thưởng số Lô, số Đề với số tiền là 4.120.000 đồng. Tổng số tiền C và C1 mua bán số Lô, số Đề và trúng thưởng là 5.070.000 đồng.
Hành vi tự mua bán và trả thưởng số Lô, số Đề cho nhau với tổng số tiền là 5.070.000 đồng, của các bị cáo C và C1 là trái pháp luật, hành vi của các bị cáo C và C1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Điều 321. Tội đánh bạc.
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Như vậy, Viện kiểm sát nC1 dân huyện Y truy tố các bị cáo C và C1 về tội danh và điều luật như Cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Bị cáo C là người bán số Lô, số Đề nên giữ vai trò thứ nhất trong vụ án; bị cáo C1 giữ vai trò thứ hai trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tăng nặng: Cả hai bị cáo C và C1 đều không có tình tiết tăng nặng.
Về giảm nhẹ: Cả hai bị cáo C và C1 đều “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp lại số tiền sử dụng vào việc đánh bạc” theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo C1 còn có thêm tình tiết giảm nhẹ nữa là “Bị cáo có bố là người có công với Cách mạng được tặng thường Huy chương” theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những tình tiết nêu trên, thấy rằng: Các bị cáo C và C1 phạm tội ít nghiêm trọng; tổng số tiền đánh bạc C và C1 phải chịu trách nhiệm hình sự là 5.070.000 đồng; quá trình điều tra và tại phiên toà thể hiện rõ sự ăn năn hối cải; nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo. Bị cáo C giữ vai trò thứ nhất nên mức hình phạt áp dụng đối với C cao hơn mức hình phạt áp dụng đối với C1. Bị cáo C có 03 tình tiết giảm nhẹ, bị cáo C1 có 04 tình tiết giảm nhẹ; nên giảm nhẹ một phần về hình phạt cho các bị cáo, tương ứng với số tình tiết giảm nhẹ và mức giảm nhẹ của mỗi tình tiết mà mỗi bị cáo được hưởng.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Vật chứng đã thu giữ gồm: 01 điện thoại OPPO A12 lắp 02 sim thuê bao số 0914753038 và số 0972861797 của C; 01 điện thoại Iphone Xs Max lắp sim thuê bao số 0977545383 của C1 và tổng số tiền là 5.070.000 đồng (trong đó của C giao nộp là 950.000 đồng, của C1 giao nộp là 4.120.000 đồng). Toàn bộ 02 chiếc điện thoại và số tiền 5.070.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; riêng 03 chiếc sim điện thoại đang lắp trong 02 điện thoại, trong đó có 01 sim của C không sử dụng vào việc đánh bạc, nhưng C không yêu cầu trả lại, nên cả 03 chiếc sim điện thoại đang lắp trong 02 điện thoại đều tịch thu tiêu huỷ.
Về hành vi mua bán số Lô, số Đề của C và C1 trong ngày 29/12/2023 với tổng số tiền là 1.480.000 đồng. C và C1 không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Nên Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với C và C1.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại gì; nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng pháp luật. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Các bị cáo C và C1 đều bị kết án, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
2. Tuyên bố các bị cáo Hà Văn C và Dương Quang C1 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: - Hà Văn C 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng).
- Dương Quang C1 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng).
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền bị cáo C và bị cáo C1 sử dụng để mua bán số Lô, số Đề và trả thưởng, đã giao nộp là 5.070.000 đồng (trong đó số tiền bị cáo C giao nộp là 950.000 đồng; số tiền bị cáo C1 giao nộp là 4.120.000 đồng).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 lắp 02 sim thuê bao số 0914753038 và số 0972861797 của C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max lắp sim thuê bao số 0977545383 của C1; riêng 03 sim điện thoại thì tịch thu tiêu huỷ.
Vật chứng có đặc điểm tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y; toàn bộ số tiền đang trong tài khoản số 3949.0.1055132.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tại Kho bạc Nhà nước huyện Y, theo ủy nhiệm chi ngày 18/3/2024 của Công an huyện Y.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Hà Văn C và Dương Quang C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đông) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo C và bị cáo C1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình - VKSND tỉnh Ninh Bình - VKSND huyện Y - Bị cáo, - Chi cục THA - Công an huyện Y - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Lực |