- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bảo Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày: 26-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Kỳ Trung.
Ông Trần Ái Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Bảo Q; sinh năm 1996, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố H, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thanh N; vợ Võ Thị Tú T; con có 01 người; tiền sự: không; tiền án: Tại bản án số 10/2022/HS-ST ngày 30-3-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bảng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 12-6-2023; bị bắt tạm giữ ngày 17-12-2023, tạm giam ngày 20-12-2023 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 17-12-2023, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, bị cáo Nguyễn Bảo Q điều khiển xe môtô biển số 70L1-970.00 đến khu phố L, phường T1, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên tên “N2” khoảng 30 tuổi (không rõ địa chỉ) mua 02 bịch nylon trong suốt, có viền màu đỏ, được bịt kín, bên trong có chứa chất ma tuý (ký hiệu M1) với số tiền 1.200.000 đồng. Sau đó, bị cáo cất giấu chất ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe môtô đến thuê phòng số 08, nhà nghỉ “S” thuộc khu phố H, phường A, thị xã Trảng Bàng để sử dụng thì bị Công an thị xã Trảng Bàng bắt quả tang vào lúc 12 giờ 10 phút cùng ngày.
Qua khám xét còn thu giữ chất ma túy trong ống thủy tinh dạng phễu (ký hiệu M4) do bị cáo mua của 01 người tên “N1” vào ngày 10-12-2023 tại khu phố L, phường T1, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh với số tiền 300.000 đồng. Bị cáo cất giữ dùng để sử dụng tại nhà nghỉ H2 thuộc khu phố A1, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Tại Kết luận giám định số 1989/KL-KTHS ngày 19-12-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn (ký hiệu M1) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,3503 gam; mẫu chất rắn (ký hiệu M4) là chất ma túy, khối lượng 0,0058 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: Khối lượng ma túy (đối tượng M1) còn lại sau giám định là 2,2858 gam; đối tượng M4 đã sử dụng hết trong công tác giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus số IMEI: 356708080121112, bên trong có sim số 0962712774 (đã qua sử dụng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202 màu xanh, số IMEI: 352055/02/05029/3, bên trong có sim số 0984668452 (đã qua sử dụng), 01 bật lửa và 01 cây kéo.
Qua xác minh, bị cáo không có tài sản.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSTrB ngày 21-02-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố bị cáo Nguyễn Bảo Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Trảng Bàng trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù. Không phạt tiền bổ sung bị cáo. Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định, 01 bật lửa và 01 cây kéo. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại di động Nokia1202 màu xanh, số IMEI: 352055/02/05029/3, bên trong có sim số 0984668452 (đã qua sử dụng), trả lại cho bị cáo điện thoại di động Iphone 8 Plus số IMEI: 356708080121112, bên trong có sim số 0962712774 (đã qua sử dụng).
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày biết bị cáo đã sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được về với gia đình, làm người công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bảo Q đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, các chứng cứ có trong hồ sơ, cùng lời luận tội của Kiểm sát viên. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Bị cáo Nguyễn Báo Quốc có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Trong các ngày 10-12-2023 và 17-12-2023 tại khu phố A1 và khu phố B, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Bảo Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, với khối lượng lần lượt là 0,0058 gam và 2,3503 gam, để sử dụng không nhầm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; như vậy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và đời sống xã hội; bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy.
[4] Xét về nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là người nghiện ma túy. Sau khi phạm tội thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Từ những nhận định trên, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội, chấp hành pháp luật khi hòa nhập cộng đồng, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
[7.1] Đối với 01 gói niêm phong bên trong có khối lượng ma túy còn lại sau giám định là 2,2858 gam; 01 gói niêm phong không còn khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 bật lửa hình dạng 04 hột xí ngầu màu xanh - đỏ - vàng và 01 cây kéo bằng kim loại, màu hồng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7.2] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, màu xanh, số IMEI: 352055/02/05029/3, bên trong có sim số 0984668452 (đã qua sử dụng), bị cáo dùng liên lạc để mua ma túy, có liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
[7.3] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI: 356708080121112, bên trong có sim số 0962712774 (đã qua sử dụng), không liên quan đến việc phạm tội và còn giá trị sử dụng nên trả lại cho bị cáo.
[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị Công an thị xã Trảng Bàng xử phạt vi phạm hành chính xong.
[9] Đối với người bán ma túy cho bị cáo tên “N1”, do không rõ lý lịch nên chưa làm việc được. Việc Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ và xử lý sau là có căn cứ.
[10] Như những nhận định trên, lời luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp, Hội đồng xét xử cần ghi nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bảo Q 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17-12-2023.
Không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
01 Gói niêm phong ghi số vụ 1989/KL-KTHS có chữ ký niêm phong của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý Phan Quốc Việt và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh (Gói 1).
01 Gói niêm phong ghi số vụ 1989/KL-KTHS có chữ ký niêm phong của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý Phan Quốc Việt và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh (Gói 2).
01 bật lửa hình dạng 04 hột xí ngầu màu xanh - đỏ - vàng và 01 cây kéo bằng kim loại, màu hồng.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1202, màu xanh, số IMEI: 352055/02/05029/3, bên trong có sim số 0984668452 (đã qua sử dụng).
- Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số IMEI: 356708080121112, bên trong có sim số 0962712774 (đã qua sử dụng).
Tất cả những vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng đang quản lý.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Phòng KTNV.TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Cơ quan THA Hình sự; - Phòng Lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - Nhà tạm giữ Công an thị xã Trảng Bàng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Vân Quỳnh |