- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc Thạch - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày: 18 – 3 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Trọng Vĩnh
2. Ông Trương Đắc Tạo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 18/3/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/TLST- HS ngày 25/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST- HS ngày 23/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện H đối với các bị cáo:
1. Phạm Ng Th, sinh năm 2000, tại tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12.
Nơi cư trú: Tổ 9, ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Con ông Phạm Văn Đ và bà Vũ Thị Th. Bị cáo có 03 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất là bị cáo. Bị cáo chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Trong tháng 5/2023 có hành vi Đánh bạc T thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề tại khu vực thuộc ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Đến ngày 03/11/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Trần Hồng Ng, sinh năm 2002, tại Hà Nội.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.
Nơi cư trú: Tổ 4, khu phố B, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
Con ông Nguyễn Trung D (đã chết) và bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1974. Bị cáo không có anh chị em ruột, Bị cáo chưa có chồng, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Trong tháng 5/2023 có hành vi Đánh bạc T thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề tại khu vực thuộc ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Đến ngày 03/11/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Đặng Ngọc T, sinh năm 1999, tại tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: dân quân tự vệ; Trình độ học vấn: 12/12.
Nơi cư trú: Tổ 4, ấp P, xã A1, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Con ông Đặng Ngọc Tr, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1973. Bị cáo có 02 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1999, bị cáo chưa có con.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Trong tháng 5/2023, có hành vi Đánh bạc T thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề tại khu vực thuộc ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Đến ngày 03/11/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 5/2023, Phạm Ngọc Th đã nảy sinh ý định đánh bạc để thu lợi bất chính bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền với Nguyễn Trần Hồng Ng và Đặng Ngọc T thông qua tin nhắn điện thoại trên tài khoản mạng xã hội với nhau, trong đó T là bạn bè ngoài xã hội quen biết với Th từ trước; còn Ng là người yêu của Th.
Phạm Ngọc Th sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Ngọc Th”, đăng ký bằng số thuê bao 0367.929763; Đặng Ngọc T sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo tên “T Emmmmmmmm”, đăng ký bằng số thuê bao 0974.741645; Nguyễn Trần Hồng Ng sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Âu Hồng Ng”, Zalo tên “Ng” đều đăng ký bằng số thuê bao 0868.018079. Khi cần mua số đề thì T dùng tài khoản Zalo tên “T Emmmmmmmm” nhắn tin gửi các con số cần mua và số tiền rồi gửi qua tài khoản zalo tên “Ng” cho Ng, sau đó Ng dùng tài khoản Facebook tên “Âu Hồng Ng” gửi số đề mà T đã mua qua tài khoản Facebook tên “Ngọc Th” cho Th biết để Th ôm số đề. Sau khi có kết quả xổ số, Th hoặc T tính kết quả rồi gửi cho Ng để biết kết quả T thua. Sau đó Th sử dụng tài khoản ngân hàng Quân đội MBBank số: 140209080000, chủ tài khoản: PHAM NGOC THACH; còn T sử tài khoản ngân hàng Lienvietbank số: 0974741645, chủ tài khoản: DANG NGOC THANG để giao dịch tiền thắng thua với nhau.
Quá trình điều tra xác định, trong thời gian từ ngày 08/5/2023 đến ngày 20/5/2023, các bị cáo đã tham gia đánh bạc dưới hình thức ghi số đề T thua bằng tiền, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 08/5/2023, T mua các con số 63 bao lô 70 điểm; 25 bao lô 20 điểm, đài kết quả xổ số thành phố Hồ Chí Minh với tổng số tiền 1.215.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 5.250.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 1.215.000 + 5.250.000 = 6.465.000 đồng.
- Lần thứ hai: Ngày 11/5/2023, T mua các con số 36 bao lô 50 điểm; 50 bao lô 50 điểm; 49 bao lô 50 điểm, đài Tây Ninh với tổng số tiền 2.025.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 3.750.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.025.000 + 3.750.000 = 5.775.000 đồng.
- Lần thứ ba: Ngày 12/5/2023, T mua các con số 36 bao lô 50 điểm; 50 bao lô 50 điểm; 54 bao lô 50 điểm, đài Bình Dương với tổng số tiền 2.025.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 7.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.025.000 + 7.500.000 = 9.525.000 đồng.
- Lần thứ tư: Ngày 12/5/2023, T mua các con số 57 bao lô 50 điểm; 12 bao lô 30 điểm; 72 bao lô 20 điểm, đài Miền Bắc với tổng số tiền 2.650.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 4.750.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.650.000 + 4.750.000 = 7.400.000 đồng.
- Lần thứ năm: Ngày 15/5/2023, T mua các con số 36 bao lô 50 điểm; 92 bao lô 50 điểm; 44 bao lô 50 điểm, đài thành phố Hồ Chí Minh với tổng số tiền 2.025.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 3.750.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.025.000 + 3.750.000 = 5.775.000 đồng.
- Lần thứ sáu: Ngày 16/5/2023, T mua các con số 36 bao lô 100 điểm; 44 bao lô 50 điểm, đài Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng số tiền 2.025.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 3.750.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.025.000 + 3.750.000 = 5.775.000 đồng.
- Lần thứ bảy: Ngày 17/5/2023, T mua các con số 36 bao lô 50 điểm; 47 bao lô 50 điểm; 43 bao lô 50 điểm, đài Đồng Nai với tổng số tiền 2.025.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 3.750.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.025.000 + 3.750.000 = 5.775.000 đồng.
- Lần thứ tám: Ngày 17/5/2023, T mua các con số 72 bao lô 70 điểm; 28 bao lô 20 điểm, đài Miền Bắc với tổng số tiền 2.385.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 10.450.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.385.000 + 10.450.000 = 12.835.000 đồng.
- Lần thứ chín: Ngày 19/5/2023, T mua các con số 83 bao lô 50 điểm; 36 bao lô 50 điểm; 28 bao lô 50 điểm, đài Bình Dương với tổng số tiền 2.025.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 7.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.025.000 + 7.500.000 = 9.525.000 đồng.
- Lần thứ mười: Ngày 19/5/2023, T mua các con số 77 bao lô 40 điểm; 89 bao lô 60 điểm, đài Miền Bắc với tổng số tiền 2.650.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 5.700.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.650.000 + 5.700.000 = 8.350.000 đồng.
- Lần thứ mười một: Ngày 20/5/2023, T mua các con số 04 bao lô 50 điểm; 77 bao lô 50 điểm, đài Miền Bắc với tổng số tiền 2.650.000 đồng. Kết quả: T trúng đề, T thắng số tiền 14.250.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc lần này là: 2.650.000 + 14.250.000 = 16.900.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền 11 lần mà Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng và Đặng Ngọc T tham gia đánh bạc ghi số đề với nhau là 94.100.000 đồng; trong đó số tiền mà Đặng Ngọc T thu được từ việc T cược ghi số đề là 70.400.000 đồng.
Ngoài ra, trong các ngày 09/5; 13/5; 14/5 và 18/5/2023, Phạm Ngọc Th còn tham gia ghi số đề thắng thua bằng tiền với Đặng Ngọc T; tuy nhiên trong các ngày trên số tiền mà Th đánh bạc với T đều dưới 5.000.000 đồng, do các lần đánh bạc trên không đủ định lượng để xử lý hình sự nên không xem xét đến.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 93C1-371.28; nhãn hiệu: HONDA, số loại: VARIO; số máy: KF41E2186576; số khung: MH1KF4123MK183896, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro; số Imei: 356692119389728, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro; số Imei:353238101573151, đã qua sử dụng.
Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 23/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố các bị Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng, Đặng Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng, Đặng Ngọc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng, Đặng Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
- Đề nghị áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Th mức hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- Đề nghị áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T mức hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
- Đề nghị áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hồng Ng mức hình phạt mức hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung đề nghị xử lývật chứng như nội dung bản cáo trạng.
- Các bị cáo không tranh luận.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo cáo Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng, Đặng Ngọc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Trong thời gian từ ngày 08/5/2023 đến ngày 20/5/2023, Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng và Đặng Ngọc T đã tham gia đánh bạc dưới hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền tổng cộng là 11 lần, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 08/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 6.465.000 đồng.
- Lần thứ hai: Ngày 11/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.775.000 đồng.
- Lần thứ ba: Ngày 12/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 9.525.000 đồng.
- Lần thứ tư: Ngày 12/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 7.400.000 đồng.
- Lần thứ năm: Ngày 15/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.775.000 đồng.
- Lần thứ sáu: Ngày 16/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.775.000 đồng.
- Lần thứ bảy: Ngày 17/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 5.775.000 đồng.
- Lần thứ tám: Ngày 17/5/2023, ổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 12.835.000 đồng.
- Lần thứ chín: Ngày 19/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 9.525.000 đồng.
- Lần thứ mười: Ngày 19/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.350.000 đồng.
- Lần thứ mười một: Ngày 20/5/2023, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 16.900.000 đồng.
Tổng số tiền 11 lần mà Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng và Đặng Ngọc T tham gia đánh bạc dưới hình thức ghi số đề với nhau là 94.100.000 đồng.
Xét lời khai thừa nhận của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được, phù hợp với vật chứng thu giữ được trong vụ án. Như vậy, có đủ sơ sở để kết luận: Hành vi sử dụng số tiền 94.100.000 đồng để đánh bạc bằng hình thức đánh số đề T thua bằng tiền đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 23/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố các bị cáo Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng, Đặng Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo hiểu được đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền dưới hình thức thắng thua bằng tiền nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần xử lý các bị cáo mức án phù hợp để giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn nhưng cũng cần phân tích vai trò của từng bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để cá thể hóa hình phạt.
Do trước khi thực hiện việc đánh bạc các bị cáo không có bàn bạc với nhau, thông qua Ng là người yêu của Th nên T ghi số đề với Th nên không ai là người khởi xướng. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào số tiền và các lần đánh bạc, vai trò của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt, cụ thể như sau:
Trong vụ án thì Phạm Ngọc Th là người trực tiếp đánh số đề với T và thua với số tiền là 70.400.000 đồng, Đặng Ngọc T là người ghi đề; Nguyễn Trần Hồng Ng là người trung gian, giúp sức cho Th và T ghi đề nên vai trò của bị cáo Th và bị cáo T là tích cực, trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn.
Về trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đánh bạc 11 lần trong các ngày 08, 11, 12, 15, 16, 17, 19, 20/5/2023 mỗi lần đánh bạc (số đề) đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên các bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện. Tuy nhiên, các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo Phạm Ngọc Th và Đặng Ngọc T là người chơi đề và người chủ đề; Các bị cáo này trực tiếp đánh bạc với số tiền 94.100.000 đồng nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau. Đối với bị cáo Nguyễn Trần Hồng Ng là người trung gian ghi hộ đề từ T là người chơi đề cho Th là chủ đề mà không thu lợi; là đồng phạm với vai trò giúp sức, thứ yếu nên phải chịu trách nhiệm hình sự ít nghiêm khắc hơn các bị cáo Th và T.
Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Quá trình điều tra còn xác định: Phạm Ngọc Th và Nguyễn Trần Hồng Ng còn tham gia đánh bạc T thua bằng tiền với hình thức ghi số đề với: Huỳnh Minh H, Đinh Viết T1, Đặng Trung Q, Lê Minh Ph. Tuy nhiên, số tiền trong một lần đánh bạc của Ng và Th với những người trên đều dưới 5.000.000 đồng. Mặt khác, quá trình xác minh tiền án, tiền sự xác định: H, Q, Ph chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc. Do đó không đủ định lượng để xử lý hình sự đối với H, Q và Ph về hành vi đánh bạc.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 93C1-371.28; nhãn hiệu: HONDA. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1973. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho ông Phạm Văn Đ là đúng quy định nên không đề cập xử lý.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu: Apple; loại: Iphone 12 Pro; màu xám; số máy: NGMK3ZP/A; số sê-ri: G6TDN7GX0D8X; Imei: 356692119389728, đây là tài sản của Phạm Ngọc Th, là công cụ do bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu: Apple; loại: Iphone 11 Pro; màu xám; số máy: MW9G2LL/A; số sê-ri: DNPZH32HN6XR; Imei:353238101573151, đây là tài sản của Nguyễn Trần Hồng Ng, là công cụ do bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.
Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội phạm và hình phạt là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng, Đặng Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Th hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hồng Ng hình phạt chính là hình phạt tiền với số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệuu đồng).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T hình phạt tiền là hình phạt chính với số tiền 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu đồng).
3. Về xử lý vật chúng:
Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu: Apple; loại: Iphone 12 Pro; màu xám; số máy: NGMK3ZP/A; số sê-ri: G6TDN7GX0D8X; Imei: 356692119389728; 01 điện thoại di động nhãn hiệu: Apple; loại: Iphone 11 Pro; màu xám; số máy: MW9G2LL/A; số sê-ri: DNPZH32HN6XR; Imei: 353238101573151.
(Vật chứng được mô tả và đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H theo Quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKS ngày 23/01/2024 và Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản số 0005962 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước).
4. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Các bị cáo Phạm Ngọc Th, Nguyễn Trần Hồng Ng, Đặng Ngọc T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H - Phòng HSNV CA tỉnh Bình Phước; - Bộ phận HSNV CA H; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước\; - Bị cáo; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Đình Học |