vanban.org

Bản án 22/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vỏ Vủ L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST
Ngày: 24 – 01 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/Ông Huỳnh Văn Đẹp

2/Bà Lê Thị Khanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 342/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Vỏ Vủ L; sinh năm: 1995 tại Hậu Giang; nơi thường trú: ấp A, xã L, huyện M, tỉnh Hậu Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn Đ và bà: Vỏ Thị Đ1; có vợ: Trần Thị N và 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt giữ ngày: 10/7/2023. (Bị cáo có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Chí B – Sinh năm: 2001 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 16 giờ 50 phút ngày 10/07/2023, Tổ Công tác 363 thuộc Công an huyện Hóc Môn phối hợp cùng Công an xã Xuân Thới Thượng tuần tra đến trước nhà số 660 đường Phan Văn Hớn, ấp 5, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn phát hiện Nguyễn Trường T điều khiển xe gắn máy biển số 94D1-657.21 chở Vỏ Vủ L phía sau có biển hiện nghi vấn; nên tiến hành kiểm tra, kết quả thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Vỏ Vủ L đang mặc có 01 gói nylon có chứa tinh thể màu (ký hiệu mẫu m1) và 01 gói nylon bên trong có 03 gói nylon nhỏ có chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2), theo L khai nhận đó là ma túy đá để sử dụng cho bản thân, không liên quan gì đến T. Vụ việc được Công an xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn điều tra, làm rõ.

Tại Kết luận giám định số: 7585/KL-KTHS ngày 19/07/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6524g (không phẩy sáu năm hai bốn gam) loại Methamphetamine.

- Tinh thể không màu trong 03 gói nylon để trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6913g (không phẩy sáu chín một ba gam) loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định: Vào ngày 10/07/2023, L điều khiển xe máy biển số 94D1-657.21 đi từ Hậu Giang lên Thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm. Trên đường đi, L đã mua 500.000 đồng ma túy đá (gồm 04 gói) ở bến xe Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre của 01 người thanh niên (không rõ lai lịch), bỏ vào túi quần bên phải phía trước đang mặc nhằm mục đích sử dụng. Sau đó, L tiếp tục điều khiển xe đến khu vực Đức Hòa, tỉnh Long An thì gặp bạn là Nguyễn Trường Tvà T hỏi mượn xe của L để đi trả tiền cho người quen ở xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. L đồng ý rồi giao xe cho T điều khiển chở L thì bị Công an phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang như trên. T không biết việc L tàng trữ ma túy để sử dụng, L có lời khai phù hợp như T đã khai.

Vật chứng vụ án:

Đối với: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1516/23 bên trong là ma túy loại Methamphetamine sau giám định còn lại; 01 điện thoại di động Vivo, L dùng để liên lạc cá nhân; 01 xe máy biển số 94D1-657.24 (số máy: JA39E3047166, số khung: RLHJA3925PY711650), qua xác minh xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Chí B, B cho L mượn để làm phương tiện đi lại, B không biết L sử dụng xe gắn máy đi mua ma túy; Công an huyện Hóc Môn đã tạm giữ.

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSH.HM ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Vỏ Vủ L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo, xử phạt bị cáo: Vỏ Vủ L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

- Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình; qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, nội dung tin nhắn qua zalo, vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định về ma túy, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Vỏ Vủ L cất giữ trái phép: 0,6524g + 0,6913g = 1,3437 g Methamphetamine, nhằm mục đích để bán lại cho người khác, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn; do vậy, bị cáo Vỏ Vủ L bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do mới bị kết án lần đầu.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về xử lý vật chứng:

Đối với: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1516/23(KLGĐ 7585) bên trong là ma túy loại Methamphetamine; là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc xe gắn máy biển số 94D1-657.21 (số khung: RLHJA3925PY711650, số máy: JA39E3047166) cũ đã qua sử dụng trầy xước nhiều chỗ; qua xác minh xe thuộc sở hữu của ông Nguyễn Chí B, B cho L mượn để làm phương tiện đi lại, B không biết L sử dụng xe gắn máy đi mua ma túy; vậy căn cứ vào điểm b, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; trả lại cho ông Nguyễn Chí B.

Đối với: 01 điện thoại di động Vivo cũ đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của L, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội; nên giao trả lại cho bị cáo Vỏ Vủ L.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật áp dụng:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);

- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Vỏ Vủ L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3. Hình phạt:

- Hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Vỏ Vủ L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/7/2023.

- Hình phạt bổ sung:

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L.

4. Nội dung khác:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 1516/23(KLGĐ 7585) bên trong là ma túy loại Methamphetamine

- Trả lại ông Nguyễn Chí B: 01 chiếc xe gắn máy biển số 94D1-657.21 cũ đã qua sử dụng(số khung: RLHJA3925PY711650, số máy: JA39E3047166).

- Trả lại bị cáo Vỏ Vủ L: 01 điện thoại di động Vivo cũ đã qua sử dụng

(Tình trạng vật chứng và tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/12/2023 giữa Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Buộc: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ